Liên hệ với chúng tôi

Ngẫm

Lên Sáu - Bài thơ của Tản Đà 100 năm vẫn vẹn nguyên ý nghĩa về sự giáo dục

Lên Sáu là một bài thơ hay của Tản Đà được viết vào năm 1919 nhưng mãi đến năm 1924 mới được xuất bản. Bài thơ dù đã trên 100 năm nhưng vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa về sự giáo dục.

Lên Sáu - Bài thơ của Tản Đà 100 năm vẫn vẹn nguyên ý nghĩa về sự giáo dục

Xuất bản:

Hoa Nguyễn
Lên Sáu - Bài thơ của Tản Đà 100 năm vẫn vẹn nguyên ý nghĩa về sự giáo dục
Photo: internet

Tản Đà là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học thế kỷ 20 với rất nhiều bài thơ nổi bật được độc giả yêu thích. Thơ của ông vừa độc đáo, sáng tạo lại vừa phóng khoáng với nhiều thể loại, nhiều lĩnh vực. Đi khắp mọi miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau. Ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của phong trào thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

tan da 1

Tản Đà có rất nhiều bài thơ hay, trong đó Lên Sáu được xem là một bài thơ mang ý nghĩa về sự giáo dục con người. Trước khi dạy trẻ lòng yêu nước, yêu đồng bào, hãy dạy trẻ cách hiếu thuận với cha mẹ, cung kính với thầy cô. Khi đó những cái "yêu" còn lại sẽ hình thành tốt đẹp.

tan da 2

Dưới đây là nội dung chi tiết của bài thơ Lên Sáu:

Sách quốc ngữ - Chữ nước ta.

Con cái nhà - Đều phải học.

Miệng thì đọc - Tai thì nghe.

Chớ ngủ nhè - Chớ láu táu.

Con lên sáu - Đang vỡ lòng.

Học cho thông - Thầy khỏi mắng.

Trong trời đất - Nhất là người.

Ở trên đời - Hơn giống vật.

Con bé thật - Chưa biết gì

Còn ngu si - Phải dạy bảo

Cho biết đạo - Mới nên thân

Sau lớn dần - Con sẽ khá.

Ai đẻ ta? - Cha cùng mẹ.

Bồng lại bế - Thương và yêu.

Ơn nhường bao - Con phải ngẫm:

Áo mặc ấm - Mẹ may cho.

Cơm ăn no - Cha kiếm hộ.

Cha mẹ đó - Là hai thân.

Hai thân là - Là thân nhất.

Trong trời đất - Không ai hơn.

Con biết ơn - Nên phải hiếu.

Nghĩa chữ hiếu - Đạo làm con

Con còn non - Nên học trước.

Đi một bước - Nhớ hai thân.

Con còn nhỏ - Có mẹ cha.

Lúc vào ra - Được vui vẻ.

Con còn bé - Mẹ hay chiều.

Thấy mẹ yêu - Chớ làm nũng.

Đã đi học - Phải cho ngoan,

Hay quấy càn - Là chẳng hiếu.

Con còn bé - Mẹ hay lo,

Ăn muốn cho - Lại sợ độc.

Con ốm nhọc - Mẹ lo thương,

Tìm thuốc thang - Che nắng gió.

Con nghĩ đó - Sao cho ngoan.

Hay ăn càn - Là chẳng hiếu.

Anh em ruột - Một mẹ cha,

Mẹ đẻ ra - Trước sau đó.

Cùng máu mủ - Như tay chân,

Nên yêu thân - Chớ ganh tị.

Em coi chị - Cũng như anh,

Trước là tình - Sau có lễ.

Người trong họ - Tổ sinh ra,

Ông đến cha - Bác cùng chú.

Họ nội đó - Là tông chi.

Cậu và dì - Về họ mẹ.

Con còn bé - Nên dạy qua.

Còn họ xa - Sau mới biết.

Người trong họ - Có bề trên,

Lạ hay quen - Đều phải kính.

Có khách đến - Không được đùa.

Ai cho quà - Đừng lấy vội.

Ông bà gọi - Phải dạ thưa.

Phàm người nhà - Không được hỗn.

Quảng cáo

Con bé dại - Mải vui chơi.

Muốn ra người - Phải chăm học.

Miệng đang đọc - Đừng trông ngang.

Học dở dang - Đừng có chán.

Học có bạn - Con dễ hay.

Mến trọng thầy - Học chóng biết.

Dậy con biết - Phép vệ sinh:

Ăn quả xanh - Khó tiêu hoá.

Uống nước lã - Có nhiều sâu.

Áo mặc lâu - Sinh ghẻ lở.

Mặt không rửa - Sinh u mê.

Đang mùa hè - Càng phải giữ.

Các giống vật - Thật là nhiều:

Như con hươu - Ở rừng cỏ.

Như con chó - Nuôi giữ nhà.

Con ba ba - Loài máu lạnh.

Loài có cánh - Như chim câu.

Còn loài sâu - Như bọ róm.

Cây và cỏ - Có khác loài,

Trông bề ngoài - Cũng dễ biết.

Như cây mít - Có nhiều cành.

Lúa, cỏ gianh - Có từng đốt,

Còn trong ruột - Lại khác nhau.

Vài năm sau - Con biết kỹ.

Đá bờ sông - Không sống chết.

Không có biết - Không có ăn,

Không người lăn - Cứ nằm đây.

Như đá cuội - Như đá xanh,

Như mảnh sành - Như đất thó,

Các vật đó - Theo loài kim.

Các loài kim - Tìm ở đất.

Nhất là sắt - Nhì là đồng,

Làm đồ dùng - Khắp trong nước.

Như vàng bạc - Càng quý hơn,

Đúc làm tiền - Để mua bán,

Ai có vạn - Là người giàu.

Vốn xưa là - Nhà Hồng Lạc.

Nay tên nước - Gọi Việt Nam.

Bốn nghìn năm - Ngày mở rộng.

Nam và Bắc - Ấy hai miền,

Tuy khác tên - Đất vẫn một.

Lào, Miên, Việt - Là Đông Dương.

Đầu trị nước - Đức Kinh Dương.

Truyện Hùng Vương - Mười tám chúa.

Qua mấy họ - Quân Tàu sang.

Vua Đinh Hoàng - Khai nghiệp đế.

Trải Đinh, Lý - Đến Trần, Lê.

Nay nước ta - Là nước Việt.

Chữ nước ta - Ta phải học,

Cho trí óc - Ngày mở mang.

Muốn vẻ vang - Phải làm lụng.

Đừng lêu lổng - Mà hư thân.

Nước đang cần - Người tài giỏi.

Cố học hỏi - Để tiến nhanh.

Vừa ích mình - Vừa lợi nước.

Chớ lùi bước - Lả kẻ hèn.

(Nghiêm Hàm ấn quán xuất bản, 1924)

Bài thơ Lên Sáu đã có mặt trong sách giáo khoa để giáo dục trẻ. Mặc dù góc nhìn về phương diện kiến thức lịch sử chưa thật sự toàn diện nhưng bài thơ vẫn giữ nguyên được ý nghĩa giáo dục. Đó là phép dạy đạo làm người, giúp xây dựng các nhân tố hình thành nên phẩm chất con người.

Xem thêm: "Ông" bình vôi là gì và vì sao người Việt xưa lại tôn thờ "ông" bình vôi?

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo