Những chính sách bài bản, quyết liệt của vua Minh Mạng với chủ quyền biển đảo Việt Nam

Trong thời gian trị vì, vua Minh Mạng đã chủ trương thực hiện nhiều chính sách cụ thể nhằm khẳng định chủ quyền cương hải một cách rất bài bản và quyết liệt.

Đỗ Thu Nga
07:00 30/09/2021 Đỗ Thu Nga
Sống Đẹp
Nguồn: Internet

Sử sách chép rằng, thời kỳ đầu triều Nguyễn (1802-1858), từ Vua Gia Long đến Vua Tự Đức, đất nước ta là một nước độc lập, có chủ quyền, do đó việc phòng ngừa ý đồ “can thiệp” của các thế lực bên ngoài rất được đề cao. Bên cạnh đó, trong quá trình đấu tranh để khôi phục và thống nhất đất nước của Vua Gia Long cũng gắn liền với các hoạt động trên biển đảo. Vậy nên các vua nhà Nguyễn có ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của biển đảo trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. 

Vào năm 1820 khi vua Minh Mạng lên cầm quyền, kế thừa tư tưởng của vua Gia Long nên cũng có ý thức sâu sắc về chủ quyền biển đảo của dân tộc. Vua Minh Mạng xác định, biển đảo là vấn đề chiến lược của triều đại. 

Nha vua từng nhận định: "Việc trị quốc phải nhìn xa trông rộng. Từ khi thân chinh, trẫm thường nghĩ kế lâu dài cho nước, đắp Trường Thành ở Quảng Bình, xây hùng quan ở Hải Vân, những nơi ven biển xung yếu như Thuận An, Tư Dung… không nơi nào không xây pháo đài, lợi dụng địa thế hiểm trở để củng cố phòng vệ cho đất nước”.

nhung-cong-lao-cua-vua-minh-mang-voi-chu-quyen-bien-dao-viet-nam-0
Chân dung vua Minh Mạng

Các quan điểm chính sách về biển đảo của triều Nguyễn được đề cập nhiều trong các bộ chính sử như: Đại Nam thực lục chính biên và tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí… 

Minh chứng cụ thể nhất về chủ quyền biển đảo dưới thời vua Minh Mạng đó chính là các hình ảnh được chạm khắc trên Cửu Đỉnh (nhóm hiện vật đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào năm 2012) đặt trong Hoàng cung. Cửu đỉnh là 9 đỉnh đồng lớn được vua Minh Mạng cho đúc vào tháng 12/1835 và hoàn thành vào tháng 6/1837, là văn bản chủ quyền bằng hình ảnh sống động nhất của vua Minh Mạng gửi các thế hệ mai sau như một lời khẳng định về sự trường tồn của đất nước.

Trong 153 hình ảnh đặc trưng của đất nước được chọn để khắc vào Cửu đỉnh, có Biển Đông (Đông Hải) được chạm khắc vào Cao đỉnh là đỉnh lớn nhất trong Cửu đỉnh, Biển Nam (Nam Hải) được khắc vào Nhân đỉnh và Biển Tây (Tây Hải) được khắc vào Chương đỉnh, đây cũng là ba đỉnh lớn nhất tượng trưng cho ba vị vua đầu tiên của triều Nguyễn. 

nhung-cong-lao-cua-vua-minh-mang-voi-chu-quyen-bien-dao-viet-nam-9
Hình ảnh chủ quyền biển đảo được khắc trên Cửu đỉnh ở Huế

Các nhà nghiên cứu cho biết, thời vua Minh Mạng ranh giới hành chính các địa phương và các vùng biển được phân chia rõ ràng trong phân cấp quản lý Nhà nước. Biển Đông của Việt Nam kéo dài từ phía Bắc đến Bình Thuận, bao gồm cả dải cát vàng Hoàng Sa, Trường Sa hay còn gọi là Vạn lý Ba Bình. Biển Nam bao gồm từ Bình Thuận đến Hà Tiên có nhiều hòn đảo như Đại Kim, Mảnh Hảo, Nội Trức, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Châu... tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia… Biển Tây là vùng biển giáp với vịnh Thái Lan.

Ba vùng biển thuộc chủ quyền biển đảo của Việt Nam được khắc trên Cửu đỉnh là hình ảnh sông nước nhấp nhô, ẩn hiện rất nhiều đảo lớn nhỏ, chính giữa hình ảnh là đại tự khắc nổi ghi tên mỗi vùng biển Đông Hải, Nam Hải, Tây Hải. Đây là thông điệp khẳng định chủ quyền biển đảo độc đáo mà Minh Mạng để lại trong tiến trình lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta.

Trên văn khố, châu bản triều Nguyễn còn lưu truyền đến nay thì vua Minh Mạng không chỉ là người đưa ra chủ trương vươn ra biển mà còn là người trực tiếp kiểm tra giám sát việc thực hiện với hàng trăm bản châu phê chỉ đạo việc đo vẽ bản đồ, cắm mốc hải giới, trồng cây, xây miếu thờ trên Hoàng Sa nhằm khẳng định chủ quyền lãnh hải thiêng liêng của đất nước.

nhung-cong-lao-cua-vua-minh-mang-voi-chu-quyen-bien-dao-viet-nam-7

Có thể kể đến như Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 104, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) ghi: Vua chỉ dụ Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.

Hay việc cắm mốc chủ quyền cũng được vua Minh Mạng chỉ đạo: Hằng năm cử người ra Hoàng Sa, Trường Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc. Thuyền đi đến đâu cắm mốc đến đó…”.

Nếu làm một phép tính đơn giản: Trong 20 năm trị vì đất nước, năm nào vua Minh Mạng cũng cho 1 đội dân binh Hoàng Sa theo lệnh nhà vua ra cắm 10 mốc chủ quyền trên các đảo của Hoàng Sa và Trường Sa, thì đã có hàng trăm đảo lớn nhỏ đã được xác định chủ quyền của Việt Nam từ hơn 200 năm trước.

Không chỉ khuyến khích dân binh ra Hoàng Sa mà vua Minh Mạng còn đưa ra chính sách thưởng phạt phân minh đối với những ai không hoàn thành nhiệm vụ ở Trường Sa. Trong tờ Châu bản số 092, Stt 070, quyển 054 năm Minh Mạng 16 (1835) ghi: Việc sai phái quân đội ra Hoàng Sa đo đạc và vẽ bản đồ nhưng vẽ chưa được rõ ràng là các Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện và Nguyễn Văn Hoằng đều đánh 80 gậy chuẩn cho thả tất cả. 2 tên hướng dẫn là Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Sinh đều thưởng cho 3 mai tiền bằng bạc hạng nhỏ. Các binh thợ tham gia đều thưởng cho mỗi người 1 quan tiền.

nhung-cong-lao-cua-vua-minh-mang-voi-chu-quyen-bien-dao-viet-nam-1
Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam

Dưới thời vua Minh Mạng, quy chế thủy quân cũng được cải tiến, đặc biệt quan tâm đến việc luyện tập cho hải quân và tăng cường công tác diễn tập khi tuần tra: "Đi tuần phòng ven bể, một là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thuộc dòng nước, một là để tập đánh dưới nước, biết rõ đường bể, khiến cho bọn giặc bể nghe tin không dám gây sự. Thế có phải là một việc mà ba điều lợi không". 

Nhờ có sự quan tâm này mà thủy quân trở thành đội quân hùng mạnh với nhiều loại thuyền chiến và vận tải khác nhau, có thể đáp ứng những yêu cầu phục vụ cho chiến trận cũng như giao thương trên sông nước của triều đình và các địa phương. Vua Minh Mạng cũng từng ban hành và thực hiện các chính sách về quản lý thuyền bè, tuần tra, cứu hộ, cứu nạn và chống hải tặc trên biển.

Để quản lý chặt chẽ hoạt động của tàu thuyền, Triều Nguyễn đã ban hành nhiều chỉ dụ, nội dung bao gồm tuần hành xem xét tàu qua các cửa biển và ra khơi theo đoàn; quản lý chặt chẽ tình hình tàu thuyền ra vào lạch và cửa biển dưới hình thức "Nhật ký công tác", tổ chức tìm kiếm thuyền bị nạn hay niêm phong thuyền khi cần thiết.

Theo các nhà nghiên cứu Huế, trong 13 triều vua Nguyễn, Minh Mạng là người để lại số lượng văn bản ghi chép, châu phê, châu điểm về vấn đề khai thác, bảo vệ Hoàng Sa nhiều nhất. Chính vì sự quan tâm đặc biệt của nhà vua về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, nên dưới thời vua Minh Mạng cũng đã đào tạo, tôi luyện nên nhiều chỉ huy đội hùng binh Hoàng Sa nổi tiếng để lại dấu ấn trong lịch sử xây dựng và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của triều Nguyễn, như Cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837)…

Có thể nói, nhờ những công lao của vua Minh Mạng mà ngày nay chúng ta có thêm nhiều bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của đất nước trong vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và là bài học quý báu cho chúng ta và các thế hệ mai sau trong việc bảo vệ và giữ gìn biên cương lãnh hải của Tổ quốc.

Xem thêm: Minh Mạng - vị vua tổ chức lễ Vu Lan nhiều nhất lịch sử

songdep.com.vn

5 chủ đề bạn cần biết mỗi tuần

Mỗi thứ Tư, bạn sẽ nhận được email tổng hợp những chủ đề nổi bật tuần qua một cách súc tích, dễ hiểu, và hoàn toàn miễn phí!

Bài Mới

Bình luận