Liên hệ với chúng tôi

Sống

Minh Mạng - vị vua tổ chức lễ Vu Lan nhiều nhất lịch sử

Vua Minh Mạng tổ chức lễ Vu Lan không chỉ để tưởng nhớ cha mẹ mà còn để tri ân các tướng lĩnh đã bỏ mạng vì đất nước và cầu siêu cho các sĩ tử vô danh.

Minh Mạng - vị vua tổ chức lễ Vu Lan nhiều nhất lịch sử

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Minh Mạng - vị vua tổ chức lễ Vu Lan nhiều nhất lịch sử
Photo: internet

Lễ Vu Lan báo hiếu là 1 trong những ngày lễ chính của Phật giáo (Đại thừa Bắc tông). Ngày lễ này trùng với Tết Trung nguyên của người Hán và trùng với ngày Rằm tháng 7 Xá tội vong nhân của phong tục Á Đông. 

Vua Minh Mạng (hay Minh Mệnh, vị hoàng đế thứ 2 của triều Nguyễn) được xem là người tổ chức nhiều lễ Vu Lan nhất. Trong Bộ quốc sử của triều Nguyễn - Đại Nam thực lục, Đệ nhị kỷ cho biết: Ngay từ năm đầu tiên sau khi lên ngôi (1820), vua Minh Mạng đã tổ chức đàn tế những người hy sinh vì nước vào tháng 7 Âm lịch. 

Thực lục ghi lời vua bảo Bộ Lễ như sau: "Nay các công thần khai quốc và trung hưng đều đã đặt nơi tế tự rồi. Duy nghĩ rằng nhà nước từ lúc khai sáng đến giờ, bề tôi và quân lính chết vì việc nước không phải ít mà họ tên vùi mất không được thăm viếng tế tự, rất đáng đau thương".

Từ đó, triều đình chuẩn định hằng năm lấy hai kỳ xuân thu, sau khi tế miếu công thần rồi thì tế riêng những người chết về việc nước gọi là đàn Ân tự. 

vi-vua-nao-to-chuc-nhieu-le-vu-lan-nhat-lich-su-viet-nam-8
Vua Minh Mạng là người tổ chức nhiều lễ Vu Lan nhất trong lịch sử Việt Nam

Đến năm Minh Mạng thứ 2, vào tháng 7 âm, vua đến đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ, và ban cho các tăng hơn nghìn lạng bạc. Đến Rằm tháng 7 năm Minh Mạng thứ 11 (1830), vua cũng lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ để cúng các chiến sĩ tử trận. 

"Vua thương nhớ các tướng sĩ trận vong từ trước và tất cả những ma vô tự, sai lập đàn chay phổ độ thủy lục (dưới nước, trên cạn) ở chùa Thiên Mụ", Đại Nam thực lục ghi lại.

Khi nhà vua đến xem đàn chay đã bảo với các quan đi theo rằng: "Đặt đàn chay chưa biết những u hồn ở âm phủ có được thấm ơn không, chỉ là để tỏ ý trẫm thương nhớ bề tôi mà thôi".

Trong cuốn Đại nam thực lục cũng viết về việc Bộ Lễ sát hạch các nhà sư cả nước sau đàn chay, lấy năm chục người khá thông và hơi thông cho đãi tiệc chay, bạc lạng cùng giới đao và độ điệp rồi cho về.

Đến Rằm tháng 7 năm Minh Mạng 16 (1835), vua lại mở trai đàn ở chùa Thiên Mụ để tế các tướng sĩ hy sinh khi đi đánh dẹp ở miền núi phía Bắc và đánh quân Xiêm ở Chân Lạp. Vua sai quyền thự Thống chế Bùi Công Huyên và Biện lý Công bộ Nguyễn Đức Trinh trông coi việc lập đàn.

Quảng cáo
vi-vua-nao-to-chuc-nhieu-le-vu-lan-nhat-lich-su-viet-nam
Chùa Thiên Mụ

Ngày lễ vua Minh Mạng thường đến chùa Thiên Mụ, tới trước đàn thờ các tướng sĩ rót rượu, sai các quan vệ dâng tế. Thống chế Phạm Văn Điển, Chưởng cơ Lê Văn Thuỵ, trước đây đều đã cầm quân đi đánh dẹp, nên vua sai họ chia nhau dâng rượu các đàn thờ.

Sử có viết, vua truyền cho các sư tập họp ở chùa Thiên Mụ lập đàn tràng thuỷ lục 21 ngày (gọi là tam thất, tức là ba nhân bảy) để siêu độ vong hồn những quan quân ta đã chết vì việc nước. Vua nói: "Lòng ta nhớ nghĩ đến tướng sĩ, không lúc nào quên".

Vua truyền sau triệu tập những nhà sư ở chùa các địa hạt, người nào tinh tiến giữ giới, đến Kinh, cấp cho giới đao độ điệp (dao cho sư đeo dùng để cắt áo và giấy độ điệp là bằng chứng nhận của nhà nước cấp cho nhà sư).

Vào Rằm tháng 7 năm sau, vua Minh Mạng lại đặt một đàn chay thủy lục ở chùa Thiên Mụ để độ siêu cho vong linh các quan quân chết trận ở các đạo quân Bắc Kỳ mới được 7 ngày. Sau đó cho bày thêm bài vị, tiếp tục làm chay siêu độ cho các tướng biền, binh lính vì đánh dẹp Phiên An mà chết trận, chết bệnh. 

Vua Minh Mạng còn gia lệnh cho quan tỉnh Gia Định sắm nhiều lợn, bò, giấy tiền, lễ phẩm, ban một đàn tế tướng sĩ hy sinh ở đó để tỏ đạo trung hậu. 

Khi vua xem làm chay ở chùa Thiên Mụ cũng nói rằng: "Nhà Phật dùng thần đạo để dạy đời, đạo Khổng Tử chỉ dạy luân thường là món dùng hằng ngày, song tóm lại, chung quy đều dạy người ta làm điều thiện mà thôi. 

Kể ra người ta sinh ở trong vòng trời đất, nên làm điều thiện, nên tránh điều ác. Đối với đạo Phật dạy người bằng thuyết họa phước, báo ứng, ta không nên nhất khái cho là dị đoan. Một việc khuyên người làm thiện của nhà Phật, dẫu thánh nhân sống lại, cũng không thể đổi bỏ đi được".

Xem thêm: Vua Minh Mạng đã làm thế nào để dẹp nạn "sâu mọt" đục khoét của dân?

Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo