Chân dung 3 vị thái giám quyền lực nhất lịch sử Việt Nam

Vốn tưởng thái giám là vị quan nhỏ bé hầu cận bên cạnh hoàng thượng và các cung tần trong chốn hậu cung. Thế nhưng, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận 3 vị thái giám rất khác biệt. Họ đều là dạnh tướng, nhà chính trị kiệt xuất.

Đỗ Thu Nga
11:50 29/09/2021 Đỗ Thu Nga
Sống Đẹp
Nguồn: Internet

Thái úy Lý Thường Kiệt

Sử sách chép rằng, cháu 5 đời của Ngô Quyền là Ngô An Ngữ làm tướng quân dưới thời vua Lý Thái Tổ. Gia đình ông ở phường Thái Hòa, ngay trước cửa tây hoàng thành Thăng Long. 

Trong sách "Kể chuyện các quan thái giám trong lịch sử Việt Nam" có chép rằng, vợ của Ngô An Ngữ là bà Hàn Diệu Chi từng được một ông lão đi qua bảo rằng: "Đêm trước lão xem thiên văn thấy một ngôi phúc tinh sa xuống khu vực này nên định bụng sáng ra đi xem, nay gặp phu nhân lão đã hiểu rõ sự tình. Xin chúc mừng phu nhân. Phu nhân sắp có tin vui rồi. Nhìn sắc mặt, dáng vẻ và cốt cách của phu nhân, lão đoán chắc phu nhân sẽ sinh quý tử. Đây là 1 con người tuấn kiệt, uy danh lừng lẫy không chỉ mang lại vinh quang cho dòng họ Ngô mà còn là phúc tinh của nước Nam này nữa".

Thế nhưng đang nói chuyện vui vẻ thì ông lão này lại ngập ngừng, vẻ có điều khó nói ra: "Duy chỉ có một điều…”, Hàn phu nhân gặng hỏi mãi ông lão mới nói rằng: “Duy có một điều e rằng lại không có con nối dõi”. Nói xong, sợ Hàn phu nhân buồn bã ông lão an ủi: “Nhưng dù chẳng có người nối dõi thì tiếng thơm muôn thuở cũng không dòng họ nào sánh kịp”. Hàn phu nhân ngẩn ngơ với những lời của ông lão, một lúc sau quay lại thì người đã đi mất.

chan-dung-3-vi-thai-giam-quyen-luc-nhat-lich-su-viet-nam-0

Đến năm 1019, Hàn phu nhân mang thai rồi hạ sinh một đứa bé trai khôi  ngô tuấn tú. Tướng Ngô An Ngữ đặt tên con là Ngô Tuấn với mong muốn sau này sẽ trở thành người tài ba.

Đến năm Ngô Tuấn 13 tuổi thì cha mất nên được chồng của cô là Tạ Đức đón về nhà nuôi nấng, cho ăn học tử tế. Thấy Ngô Tuấn có chí nên Tạ Đức đem gả cháu là Tạ Thuần Khanh cho.

Sau đó, Ngô Tuấn vào cung giữ chức nhỏ trong đội kỵ binh. Đến năm 1041, vua Lý Thái Tông trong khi đi sẵn đã tình cờ gặp Ngô Tuấn và rất yêu thích tài năng của người này. 

Vì biết Ngô Tuấn đã có gia đình ông vua nói: "Ta thấy ngươi hình dung tài mạo tuyệt vời lại cưỡi ngựa bắn cung giỏi, ta rất muốn bổ ngươi vào ngạch thị vệ để luôn hầu cận bên ta. Nhưng muốn vào cung ngươi phải tự yếm. Tuy nhiên ta biết ngươi đã có gia đình. Vậy ngươi hãy tự quyết chứ ta không ép”. Thấy đây là cơ hội để có thể phục vụ đất nước nên Ngô Tuấn quyết định nhập cung. Đồng thời cũng bàn bạc với vợ để bà có thể tự do đi tìm hạnh phúc mới. 

Trong suốt 12 năm làm nội thị trong triều, danh tiếng của Ngô Tuấn ngày càng nổi bật. Ông lập được nhiều công trạng khác nhau. Và cũng trong thời gian phục vụ triều đình, ông đã đổi sang họ Lý (tức mang họ Vua), từ đó mang tên Lý Thường Kiệt.

Lý Thường Kiệt đã cống hiến cho Đại Việt nhiều chiến công hiển hách như: đánh bại và bắt được vua Chiêm; tiến sang đất Tống, đánh chiếm nhiều châu trại rồi rút về; sau đó lại tiếp tục chặn đứng quân Tống trên đất Đại Việt.

Trong lịch sử Việt Nam, ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075–1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy. Đặc biệt, trận chiến ở ba châu Khâm, Ung, Liêm đã khiến tên tuổi của ông vang dội ra khỏi Đại Việt và được biết đến ở đất Tống.

Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch liệt ông vào một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam. Con tàu chiến USS Chincoteague (AVP-24) trong những năm 1972 - 1975 được mang tên là RVNS Lý Thường Kiệt (HQ-16), để vinh danh ông.

Tả thái giám Hoàng Ngũ Phúc

Hoàng Ngũ Phúc (1713 – 1776) là danh tướng thời Lê trung hưng. Ông quê ở xã Phụng Công, huyện Yên Dũng (hiện nay là thôn Tân Phượng, xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng, Bắc Giang, Việt Nam). Ông xuất thân là hoạn quan, nổi tiếng là người có nhiều mưu kế. Trước ông giữ chức tả thiếu giám, sung giữ chức nội sai trong Hình phiên.

Ngọc phả họ Hoàng Đình ở Phụng Công (Yên Dũng, Bắc Giang) có chép: Từ nhỏ ông đã mồ côi cha, nhà nghèo, được người cậu ruột nhận nuôi, tự nguyện vào cung làm thái giám từ nhỏ. Lớn lên trong cung, Hoàng Ngũ Phúc thân cận với chúa Trịnh Doanh và được cất nhắc thăng tiến.

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, năm 1743, Hoàng Ngũ Phúc dâng 12 điều binh pháp lên chúa Trịnh Doanh. Vốn biết Phúc có tài nên chúa liền nhận tấu dâng và cho thi hành luôn.

chan-dung-3-vi-thai-giam-quyen-luc-nhat-lich-su-viet-nam-8
Tượng thờ Hoàng Ngũ Phúc tại đền thờ ông ở xã Tâm Mỹ, huyện Yên Dũng, Bắc Giang ngày nay

Sau đó chúa phong ông làm thống lĩnh kỳ binh đạo Hải Dương, cùng với Phạm Đình Trọng tiến đánh các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cần, Phạm Danh Phương. Trong quá trình dụng binh, ông đã vay tiền trong kho công, tuyển người có võ nghệ để luyện binh. Những người này đã cùng ông lập nhiều chiến công, dẹp yên cuộc khởi nghĩa này.

Khi Nguyễn Phúc Loan ở Đàng Trong lộng quyền khiến dân oán trách, 3 anh em Tây Sơn nhân cơ hội khởi nghĩa. Nhận thấy cơ hội nam tiến đã đến, năm 1774, chúa Trịnh Sâm cử Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy 33 doanh quân, lấy danh nghĩa giúp chúa Nguyễn đánh Tây Sơn để nam tiến.

Quân chúa Trịnh chiếm được Bố Chính, Hoàng Ngũ Phúc cho quân vượt sông Gianh, đánh đâu thắng đó. Nguyễn Phúc Thuần phải đem trói Trương Phúc Loan giao cho quân Trịnh. Song Hoàng Ngũ Phúc không rút quân, mà lấy lý do giúp chúa Nguyễn đánh Tây Sơn để tiến sâu vào Phú Xuân. Lúc này, chúa Nguyễn phải chạy ra Quảng Nam lánh nạn.

Lúc đó, Nguyễn Nhạc chỉ huy quân Tây Sơn tiến ra Quảng Nam đánh chúa Nguyễn, khiến quân Nguyễn phải chạy vào Gia Định. Đến 4/1775, Hoàng Ngũ Phúc cho quân vượt đèo Hải Vân để vào Quảng Nam. Quân Trịnh tiến đánh quân Tây Sơn ở Cẩm Sa và giành chiến thắng, Nguyễn Nhạc phải cho quân rút về Quy Nhơn. Quân Nguyễn nhân cơ hội này từ Bình Khang đánh Phú Yên khiến quân Tây Sơn thảm bại rút về Quy Nhơn. 

Tình thế của Tây Sơn lúc này khá nguy hiểm bởi phía Bắc là quân Trịnh, phía Nam là chúa Nguyễn. Nguyễn Nhạc đã phải cho người đến hàng Hoàng Ngũ Phúc và xin được làm tiên phong cho Ngũ Phúc để đánh quân chúa Nguyễn.

Quân Trịnh ở thời điểm đó đã khá mệt mỏi nên Hoàng Ngũ Phúc sai thủ hạ là Nguyễn Hữu Chỉnh đến phong cho Nguyễn Nhạc làm “Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân”, Nguyễn Huệ làm “Tây Sơn hiệu tiền tướng quân”.

Khi quân Trịnh đứng trước cơ hội nam tiến thành công thì dịch bệnh ập đến khiến 3 đến 6 ngàn binh tướng bị chết, bản thân Hoàng Ngũ Phúc lúc đó tuổi cũng đã cao nên đành rút quân về Phú Xuân. Do Hoàng Ngũ Phúc quá già yếu nên ông xin chúa Trịnh được trở về Kinh thành. Ông mất trên đường trở về, thọ 64 tuổi.

Đại thần Lê Văn Duyệt

Lê Văn Duyệt (1763 hoặc 1764  – 28 tháng 8 năm 1832) còn gọi là Tả Quân Duyệt). Ông là một nhà chính trị, nhà quân sự lớn trong lịch sử việt Nam. Cha ông là Lê Văn Toại, người huyện Chương Nghĩa, Quảng Ngãi vào Tiền Giang lập nghiệp. Một lần Nguyễn Ánh bị quân của Nguyễn Lữ truy bắt ngoài biển, được Lê Văn Toại cưu mang. Lúc ra đi Nguyễn Ánh có hứa sau này sẽ trở lại mang con ông Lê Văn Toại là Lê Văn Duyệt theo hầu.

Đến năm 1780, Nguyễn Ánh xưng Nguyễn Vương ở Gia Định, đưa Lê Văn Duyệt theo bên mình làm thái giám. Năm ấy, ông mới 17 tuổi. Cuộc đời Lê Văn Duyệt từ đó gắn bó với Nguyễn Ánh suốt từ những năm thất bại trốn chạy quân Tây Sơn cho đến khi thống nhất đất nước.

Nguyễn Ánh nhận thấy Lê Văn Duyệt có tài cầm quân nên giao binh quyền cho ông. Nhưng cũng không ngờ rằng ông lại trở thành võ tướng xuất sắc như vậy. Sau này, Nguyễn Ánh giao cho Lê Văn Duyệt chỉ huy tả quân, nhiều lần trao cho tiết chế chỉ huy các danh tướng.

chan-dung-3-vi-thai-giam-quyen-luc-nhat-lich-su-viet-nam-6

Năm 1801, Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt cùng binh tướng tiến đánh Thị Nại. Ban đầu, hỏa lực của Tây Sơn mạnh khiến võ tướng Võ Di Ngụy tử trận. Nhận thấy tình thế bất lợi, Nguyễn Ánh cho người đến báo rút quân. Tuy nhiên Lê Văn Duyệt thấy gió nam thổi lớn và nước chảy vào trong đầm Thị Nại lợi thế cho bên tấn công, liên tiếp tục cho toàn quân tiến lên, giúp quân Nguyễn đánh thắng lớn trận này.

Trận Thị Nại được “Quốc triều sử toát yếu” xem là “võ công đệ nhất” của nhà Nguyễn. (Xem bài: Trận thủy chiến hỏa công bậc nhất sử Việt vào đầu thế kỷ 19).

Thắng trận. Nguyễn Ánh cùng Lê Văn Duyệt tiến đánh chiếm thành Phú Xuân. Đến năm 1802, Lê Văn Duyệt chỉ huy binh tướng nhà Nguyễn tiến ra bắc đánh bại Tây Sơn, nhà Tây Sơn sụp đổ từ đây.

Sau này, ông lãnh chức kinh lược Thanh Hóa, Nghệ An. Năm 1812, ông làm Tổng trấn Gia Định, bảo hộ Cao Miên, ông được trao uy quyền như một vị phó Vương, cai quản cả vùng Gia Định và miền Nam.

Lê Văn Duyệt cũng chính là người tâu vua xin đào kênh Vĩnh Tế để phục vụ tưới tiêu, rửa phèn chua cho đồng ruộng. Đồng thời giúp người dân thuận tiện đi lại, mang ý nghĩa to lớn về kinh tế lẫn quốc phòng. Ông cũng giúp mở rộng giao thương với các nước, tạo ra vùng thương mại Gia Định – Bến Nghé.

Việc cai trị cua rông đã góp công lớn cho việc giúp ổn định và phát triển Nam Kỳ, khiến cho vùng này từ một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh thành một khu vực bình yên và giàu có.

Ngoài ra, Lê Văn Duyệt phản đối việc nối ngôi của Minh Mạng đồng thời bảo vệ các tín đồ Công giáo khỏi chính sách bế quan tỏa cảng và trọng Nho giáo của nhà vua. Những việc này đã khiến ông thường xuyên xung đột với nhà vua và dẫn đến việc triều đình đã hạch tội và cho phá mộ sau khi Lê Văn Duyệt mất. Vì việc này, người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã nổi dậy chống lại triều đình. Sau khi cuộc nổi dậy bị dập tắt, Lê Văn Duyệt tiếp tục bị truy tội đến mãi đời Thiệu Trị thì vụ án mới được xét lại, và ông mới được phục hồi danh dự.

Xem thêm: Chân dung vị thái giám quyền lực nhất lịch sử Việt Nam, từng khiến vua tôi nhà Tống khiếp sợ

songdep.com.vn

5 chủ đề bạn cần biết mỗi tuần

Mỗi thứ Tư, bạn sẽ nhận được email tổng hợp những chủ đề nổi bật tuần qua một cách súc tích, dễ hiểu, và hoàn toàn miễn phí!

Bài Mới

Bình luận