Liên hệ với chúng tôi

Sống

Những "độc chiêu" xử án có một không ai của các "Bao Thanh Thiên" nổi tiếng trong sử Việt

Sử Việt đã ghi nhận nhiều vị pháp quan vận dụng trí thông minh của mình vào xét sử những vụ án khó nhằn như: Cho dân tát mặt, giả giấc mộng lạ...

Những 'độc chiêu' xử án có một không ai của các 'Bao Thanh Thiên' nổi tiếng trong sử Việt

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Những 'độc chiêu' xử án có một không ai của các 'Bao Thanh Thiên' nổi tiếng trong sử Việt
Photo: internet

1. Ấn đầu người

Vào tháng 2 năm Mậu Dần (1278), niên hiệu Bảo Phù năm thứ 6 thời trị vì của vua Trần Thánh Tông. Lúc này dân ta chết nhiều vì bệnh đậu mùa rất nhiều, một bệnh nằm trong "tứ chứng nan y" thời đó khi không có thuốc chữa bệnh. 

Khi ấy, nhà dân ở kinh thành thường bị cháy về đêm nhưng chẳng ai biết nguyên do là gì? Do người phóng hỏa do đốt đống rấm (đống chấu) để xóa dịch bệnh?

Một lần nọ, vua ra ngoại thành xem, chữa cháy, Nội thư gia Đoàn Khung được đi theo hầu. Khâm định Việt sử thông giám cương mục có chép: Vua muốn biết người nào đến trước, đến sau tham gia chữa cháy, bèn sai quan Nội thư gia họ Đoàn điểm danh, báo cáo. Việc này thật khó, vì muốn biết ai đến trước đến sau, cứ hỏi chính người đó mới biết. Nhưng chắc không phải ai cũng tâu thật. Quan Đoàn Khung liền nghĩ ra một kế. 

Ông tập hợp những người chữa cháy lại xếp thành hàng rồi ấn đầu từng người một bảo ngồi xuống để đếm. Đếm xong lại tâu rõ với vua người nào đến trước, người nào đến sau. Quả nhiên không sai chút nào. Khâm phục năng lực của người họ Đoàn, vua nói: "Tại sao mà ngươi biết rõ thế được?".

Nhung-kieu-xet-an-la-lung-trong-su-Viet

Đoàn Khung tâu rằng: "Thần ấn đầu người nào mà thấy mồ hôi thấm tóc và có tro bụi bám vào thì đó là những người đến trước và cố sức chữa. Người nào đầu tóc không có mồ hôi mà tro bụi bay rơi là người đến sau không kịp chữa, vì thế mà biết".

Vua Thánh Tông cho là giỏi nên đã cất nhắc để dùng. Nhưng 8 tháng sau, ngày 22/10 Âm lịch cùng năm, vua nhường ngôi cho Hoàng tử Trần Khâm (tức vua Trần Nhân Tông) rồi lên làm Thái thượng hoàng. Ông về ở Bắc cung rồi đi tu, nghiên cứu Phật học, viết sách.

Thời vua Anh Tông, nhớ lại việc của Đoàn Khung, vua liền cất nhắc viên Nội thư gia năm xưa, cho Đoàn Khung làm Kiểm pháp quan, khi xét án, hễ Anh Tông hỏi về điển lệ cũ, Đoàn Khung đều dẫn được án cũ làm chứng, có khi dẫn nhiều đến năm, sáu án. 

Vua Anh Tông khen viên Kiểm pháp quan họ Đoàn thông minh nhớ lâu và suy xét thấu đáo. Có được viên Kiểm pháp như thế, cũng là cái lợi cho dân nơi công đường, hình án.

2. Cho dân tát người, xét án ra thủ phạm

Vào đời vua Lê Hy Tông (1663 - 1716) thời Lê Trung hưng, nạn trộm cắp nhiều vô số kể. Việc hình án cũng bởi thế mà gia tăng không ngừng. Công đường tấp nập người ra kẻ vào, nhiều vụ án khó nhằn xuất hiện. Nhưng cũng vì thế mà phát hiện ra nhân tài Nguyễn Mại.

Sử chép, trong thời gian làm quan nhà Lê Trung hưng, ông được khen: "Có sức khỏe, có mưu lược, làm quan Thị lang Lễ bộ, ra trấn thủ Sơn Tây, có chính tích đặc biệt, trộm cướp phải nín hơi, xét kiện sáng suốt, danh vọng rất cao” (Trích Đại Nam nhất thống chí, phần Hải Dương tỉnh chí, mục Nhân vật chí).

Cái chính tích đặc biệt được nói tới ở đây, xảy ra lúc ông đang làm quan trấn thủ tỉnh Sơn Tây. Thỉnh thoảng, quan trấu thủ hay ra ngoài công đường đi xem dân tình mình trị nhậm. Cũng từ một trong những lần thực tế ấy, Nguyễn Mại đã xử một vụ án với cách xử hiếm lạ để người đời sau truyền tụng là quan xử án giỏi.

Việc này, trong Đăng khoa lục sưu giảng của Thượng thư Trần Tiến đời vua Lê Hiển Tông (1717 - 1786) và sách Hải Dương phong vật chí còn ghi lại sự vụ. Theo đó, một hôm ông Nguyễn Mại đi bộ qua chợ Bảo Khám thuộc huyện Gia Bình (nay là huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), thấy một người đàn bà mất một cái màn (Hải Dương phong vật chí viết vật bị mất là con gà), chắc xót của lắm nên chửi rủa mãi không thôi, lại lôi cả tam đời, ngũ đại nhà kẻ ăn trộm ra mà chửi.

Nhung-kieu-xet-an-la-lung-trong-su-Viet-0

Sau khi biết sự tình, ông cho gọi người đàn bà mất của lại hỏi chiếc màn đáng giá bao nhiêu tiền để ông trả. Sau đó lính trói người đàn bà lại rồi cho gọi làng xóm đến, vờ mắng người đàn bà bị trộm màn cái tội chua ngoa: "Mất một cái màn đáng giá bao nhiêu tiền mà bà chửi tổ tông người ta?".

Quảng cáo

Nói xong, ông sai tất cả đàn ông, đàn bà trong xóm ấy vả vào mặt người đàn bà mất màn vì tội chửi ngoa. Dân trong làng thương người đàn bà ấy lắm, bởi bà ăn ở cũng không đến nỗi nào, đã mất màn lại còn bị tát. Nhưng lệnh quan ra là phải theo, bởi vậy ai cũng phải tát bà ta, nhưng không nỡ tát mạnh. Duy chỉ có một người đàn bà trong làng ra sức tát thật mạnh. Bởi chính mụ này là kẻ ăn trộm, giận vì bị lôi cả tông tộc ra mà chửi nên tát thật mạnh cho sướng tay để trả thù. Nhưng mụ ta nào có biết ý của Nguyễn Mại. 

Mụ vừa tát xong, quan họ Nguyễn đã cho giữ lại, tra hỏi luôn: "Chính ngươi đã ăn trộm màn nên mới động lòng mà đánh người ta đau như thế, tội ấy còn chối cãi sao được!".

Quả nhiên kẻ ăn trộm màn chính là mụ ta. Chiếc màn được trả lại cho người bị mất, còn mụ đàn bà ăn trộm cứ chiểu theo luật mà định tội. Dân tình trong làng ai cũng khen quan Nguyễn Mại là thần minh, xét án công bằng, sáng suốt mà ít ai ngờ tới. Sau này khi quan Nguyễn Mại mất, người hạt Sơn Tây nhớ công đức của ông có làm bài Sơn Tây Đức chính ký ca ngợi công đức của vị pháp quan. 

Cùng trong thời gian làm quan, theo Hải Dương phong vật chí cho hay, ở ngôi chùa thuộc huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ), các ni cô tụ họp ở đó, rồi một ni cô kêu mất chiếc xiêm lụa. Biết việc, Nguyễn Mại sai lập đàn cúng, rồi lệnh cho các ni cô một tay cầm tay người kia, một tay nắm ít thóc, cùng chạy quanh đàn cúng. Ông lại vờ bảo, ai là người gian tà thì thóc nắm trong tay sẽ nảy mầm. Các ni cô cứ thế tay cầm tay, lại tay nắm thóc chạy quanh đàn. Để ý, viên quan giỏi xử án thấy một ni cô thường hay hé tay để xem nắm thóc nảy mầm hay chưa. Đoán biết được kẻ trộm áo, ông cho mọi người ngừng chạy quanh đàn cúng, gọi ni cô kia đến bảo phải mau thú nhận. Đúng như quan sát của ông, ni cô ấy nhận tội. Cả chùa khen ông là tài. 

Khi nói đến đất Hải Dương, người đời sau không thôi nhắc đến ông, như trong Đại Nam dư địa chí ước biên, Tổng tài Quốc sử quán Cao Xuân Dục tán tụng rằng: 

Có chính tốt, được dân Sơn Tây yêu mến, còn bia để lại, thì Nguyễn Mại, xứ Ninh Xá; 

Ở nơi đầu sóng ngọn gió, xét án trên đầu voi thì Phạm Đình Trọng ở Khinh Giao.

3. Giấc mộng lạ tìm ra kẻ ác

Theo Đại Việt sử ký tục biên, năm Canh Thân (1680), niên hiệu Chính Hòa năm thứ nhất, triều đình tổ chức “Thi hội các viên cống cử trong nước, lấy đỗ bọn Nguyễn Côn 19 người. Khi thi Đình cho bọn Phạm Công Thiện (người Ngọc Thiện, huyện Gia Định), Nguyễn Công Xán (người xã Thượng Yên Quyết, huyện Từ Liêm) đỗ tiến sĩ xuất thân (hoàng giáp)”. Cũng trong kỳ thi ấy, dù không đỗ cao tột bậc, nhưng Nhữ Đình Hiền  (1659 - ?) cũng dự phần đỗ đạt, làm nên công trạng hiển hách, được người đời biết đến nhiều.

Trong đời làm quan, ông phụng mệnh đi sứ phương Bắc, làm quan đến chức Thượng thư bộ Hình, có biệt tài về chính sự, xử án rất công bằng. Người đời còn truyền tụng một câu chuyện xử án nói lên tài trí của ông. Việc được Phạm Quý Thích, một danh thần cùng quê chép trong Hải Dương phong vật chí. 

Bấy giờ có một vụ nghi án xảy ra. Ở vùng núi nọ có hai chị em ruột đều đã lập gia đình. Người em gái vì biết tin chị bị ốm nên đến chăm sóc. Hai nhà cách nhau khá xa. Nhiều ngày sau người chồng của cô em gái không thấy vợ trở về nên nghi vợ bị chồng của chị gái vợ làm hại. Người chồng của cô em gái mất tích mới kiện lên quan làm cho người chồng của chị gái trở thành nghi phạm lớn nhất, bị giam vào ngục. Các quan thay nhau xét án, nhưng chứng cứ không có trong tay, việc ấy đình trệ tới sáu, bảy năm mà vẫn chưa luận định được.

Nhung-kieu-xet-an-la-lung-trong-su-Viet-5
Xử án thời Nguyễn

Đến khi án ấy được đưa tới tay quan Thượng thư bộ Hình Nhữ Đình Hiền, không dựa vào những bản cung hình trước của các quan đã kinh qua vụ án này. Quan Thượng thư họ Nhữ muốn tìm chứng cứ thực tế thuyết phục để giải đáp khuất tất. Khi xem địa đồ khu đất bao quanh khoảng nhà hai chị em, ông thấy có một ngôi chùa ở ngoài cánh đồng cây cối rậm rạp mà người thiếu phụ xấu số khi đi tất đến nhà cô chị tất phải qua đó. Đoán rằng, chắc người em gái xấu số kia nhất định bị bọn ác tăng trong ngôi chùa này giở trò đồi bại trước khi đến được nhà chị gái mình. Để có cơ sở thực tế, ông lập tức sai người đưa tới ngôi chùa kia, mượn tiếng tham thiền để lưu lại chùa ấy một đêm.

Sáng hôm sau, Nhữ Đình Hiền cho triệu tập các tăng đồ trong chùa lại, lấy cớ đêm qua nằm thấy có người đến báo mộng, mới dọa rằng: "Các người đều là kẻ tu hành, sao lại có oan hồn đến tố giác với ta? Vậy thì sự thể ra sao, phải mau tự thú".

Những tên sư hổ mang đều tái mặt khi nghe ông nói, bèn chỉ tay ra một cây tháp. Khi đào chỗ ấy lên, xác người thiếu phụ bị cưỡng hiếp quả nằm dưới ấy. Vụ án nhờ đó được làm sáng tỏ, người chồng của chị gái mới thoát khỏi án ngục, xóa tội. Còn những tên sư phạm tội thì nghiêm trị không chút dung tha. 

Tài xét án của Nhữ Đình Hiền, về sau, đa phần đều giải quyết được những vụ án khó. Thế nên người đương thời mới có câu khe: “Văn chương Lê Anh Tuấn, chính sự Nhữ Đình Hiền”. Lại xếp ông nằm trong danh sách “Tràng An tứ hổ” gồm 4 danh thần giỏi giang bậc nhất đất Thăng Long: Vũ Diệm (1705 - ?), Nguyễn Bá Lân (1700 - 1786), Nhữ Đình Hiền (1659 - ?), Nguyễn Công Thái (1684 - 1758). 

Xem thêm: Sử Việt có 1 nhân vật tên "TRẬT" nhưng đường công danh lại cực trơn tru, thi đâu trúng đó

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo