Liên hệ với chúng tôi

Sống

Nghệ thuật ngoại giao "thiên biến vạn hóa" của các triều đại phong kiến Việt Nam với nước lớn

Phải khẳng định rằng, nghệ thuật ngoại giao của các triều đại phong kiến Việt Nam với nước lớn là vô cùng đa dạng, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử.

Nghệ thuật ngoại giao 'thiên biến vạn hóa' của các triều đại phong kiến Việt Nam với nước lớn

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Nghệ thuật ngoại giao 'thiên biến vạn hóa' của các triều đại phong kiến Việt Nam với nước lớn
Photo: internet

Nhìn lại chiều dài lịch sử gần 1000 năm, các chính sách ngoại giao của các triều đại phong kiến được thực hiện một cách thiên biến vạn hóa, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử, mang đậm nét đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái chính trị của mỗi chế độ, triều đại, nhưng đều nắm giữ vững độc lập, tự chủ, ngăn chặn họa xâm lăng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, xây dựng nền thái bình lâu bền cho muôn dân.

1. THỜI VUA HÙNG

Tương truyền, từ năm thứ năm thời Vua Nghiêu ở Trung Quốc (2353 trước Công nguyên), sứ bộ nước ta đã được Vua Hùng cử sang phương Bắc, trải qua các lần thông dịch, tiếp xúc với nhiều dân tộc mới đến nơi.

Nghe-thuat-ngoai-giao-dinh-cao-cua-cac-trieu-VN-voi-nuoc-lon-0

Món quà do Vua Hùng nước ta tặng Vua Nghêu là một con rùa lớn, trên mai có khắc chữ, ghi lại sự việc từ khi trời, đất mới mở mang, với mong muốn gửi thông điệp của một nước Nam về sự thân thiện và trường tồn. 

2. THỜI NHÀ ĐINH

Ngay sau khi đăng cơ, vua Đinh Tiên Hoàng đã quan tâm đến việc thiết lập mối quan hệ giao bang với nhà Tống. Cụ thể:

- Năm 970, vua sai sứ sang nhà Tống giao hảo, mở đầu quan hệ bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc trong thời kỳ trung đại.

- Năm 972, vua sai con trai cả là Nam Việt Vương Đinh Liễn sang nước Tống. Đến năm 973 mới trở về nước. Chuyến đi sứ của Đinh Liễn thành công nên khi Đinh Liễn về nước vua Tống đã sai sứu đến kinh đô Hoa Lư phong Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương, phong Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ.

- Năm 975, vua sai Trịnh Tú đem sản vật địa phương gồm vàng, lụa, sừng tê, ngà voi sang nước Tống cống.

- Năm 977, vua lại sai sứ sang nhà Tống đem phương vật mừng Tống Thái Tông lên ngôi.

Như vậy, dưới triều nhà Đinh, kể từ năm 970 trong quan hệ bang giao giữa Đại Cồ Việt và Trung Quốc chưa xảy ra xung đột. Nhà Tống đối với triều Đinh nói chung và với Đinh Tiên Hoàng nói riêng, đều tỏ ra hữu hảo. Điều cho thấy chính sách ngoại giao của vua Đinh là rất khôn khéo, mềm dẻo để giữ hòa bình cho dân tộc.

3. THỜI NHÀ LÊ

Khi đăng cơ cầm quyền, Lê Hoàn đã thi hành chính sách ngoại giao linh hoạt, khôn khéo nhưng kiên quyết. Khi tiếp đón sứ thần nhà Tống là Tống Cảo và Vương Ích Tắc ở trại Nại Chính, Trường Châu, Hoa Lư, Lê Hoàn cho "bày thủy quân và chiến cụ để biểu dương lực lượng".

Nghe-thuat-ngoai-giao-dinh-cao-cua-cac-trieu-VN-voi-nuoc-lon-8

Để ngăn ngừa các hoạt động do thám nhằm xâm lược nước ta của nhà Tống, Lê Hoàn khéo léo đề nghị: "Sau này nếu có quốc thư thì nên giao nhận ngay ở đầu địa giới, không phiền sứ thần đến đây nữa". Sau đó, "Cảo về tâu, vua Tống bằng lòng".

Đến năm 997, nhân khi vua Tống băng hà và việc nhà Tống phong Lê Hoàn làm Nam Bình Vương, vua Lê Hoàn sai sứ sang Tống đáp lễ, trước hành động đó cả Lê Hoàn, vua Tống đã ban "chiếu thư khen ngợi". 

Quảng cáo

Cũng nhờ phong cách ứng xử biết người, biết mình của Lê Hoàn mà nhà Tống đã thay đổi chính sách đối ngoại theo hướng có lợi cho nước ta.

4. THỜI NHÀ LÝ

Để ngăn chặn mưu đồ mở rộng lãnh thổ của nhà Tống, vua Lý Nhân Tông đã đề cao cảnh giác, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh ngoại giao như: bang giao chính thức thông qua các sứ bộ, giao dịch buôn bán, trao đổi ở khu vực biên giới và tổ chức các hoạt động định biên, thống nhất biên giới; chủ động cử sứ giả sang nhà Tống cầu phong, xin kinh Đại tạng, thậm chsi chấp nhận nạp, làm phiên thần để đạt được mục đích quốc gia, dân tộc, bảo vệ cương vực lãnh thổ.

Hoạt động đấu tranh ngoại giao của nhà Lý, nhất là các chính sách bang giao mềm dẻo không chỉ làm giảm bớt căng thẳng, ngăn chặn ý định xâm lược Đại Việt của nhà Tống, mà còn đòi lại được vùng đất Quảng Nguyên (Thuận Châu) năm 1079. Đổi lại, năm 1081, nhà Lý trao trả cho nhà Tống số dân và binh lính bị bắt.

Đến năm 1084, Lý Nhân Tông "sai thị lang Binh bộ Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình của người Tống bàn việc cương giới... định biên giới, nhà Tống trả lại cho ta 6 huyện, 3 động".

5. THỜI NHÀ TRẦN

Mặc dù 3 lần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông, bảo vệ vững chắc biên cương phía Bắc nhưng vua Trần vẫn kiên trì thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với nhà Nguyên để ngăn ngừa âm mưu tái xâm lược nước ta, giữ vững chế độ nhà Trần trong 175 năm.

Nghe-thuat-ngoai-giao-dinh-cao-cua-cac-trieu-VN-voi-nuoc-lon-7

7. THỜI NHÀ MẠC

Trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", vua Mạc Đăng Dung đã chủ động thoái vị một cách mềm mỏng, khéo léo để tránh việc nhà Minh đem quân sang xâm lược Đại Việt: "Bỏ xưng tiếm hiệu (không xưng hoàng đế); xin theo lịch chính sóc (lịch của nhà Minh); trả lại đất bốn động đã chiếm; xin nội thuộc xưng thần; xin hàng năm ban lịch Đại Thống (lịch nhà Minh) và bù đủ các lễ vật tiến cống hàng năm". Nhờ đó, quân thù không đặt chân đến đất nước, và nhà Mạc vẫn xưng đế, vẫn làm chủ Đại Việt.

8. TRIỀU TÂY SƠN

Sau khi đại phá quân Thanh, vua Quang Trung đã nhanh chóng cử sứ thần sang phương Bắc làm hòa, nói rõ rằng, nước Nam chỉ bảo vệ bờ cõi của mình, Tây Sơn "không lấn sang biên giới". Đồng thời, khẳng định nếu nhà Thanh động binh xâm lược lần nữa thì quân ta kiên quyết chống lại.

Nhờ thực hiện tốt các hoạt động đấu tranh ngoại giao, nhà Thanh phải cong nhận nền độc lập của nước ta; trả lại 7 châu xứ Hưng Hóa đã chiếm trước đó; đồng thời tôn trọng chủ quyền và văn hóa nước Nam trong quan hệ hai nước.

9. THỜI NHÀ NGUYỄN

Các hoạt động đấu tranh ngoại giao thời nhà Nguyễn, buộc nhà Thanh phải công nhận quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền, công nhận quốc hiệu "Việt Nam" thay cho "An Nam quốc", công nhận lãnh thổ miền biên giới và trên biển của nước ta...

Đặc biệt, vua Nguyễn cử các đội quân, dân đi khai phá hoang đảo, thu lượm các sản vật và thực hiện quyền quản lý trên thực tế với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - khi ấy còn là đảo hoang vô chủ - cũng có tác dụng đấu tranh ngoại giao quốc phòng. Nhờ đó, chủ quyền Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu địa lý, lịch sử... trên thế giới đã ghi nhận trong các tấm bản đồ có chú thích rõ ràng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

Xem thêm: Những "độc chiêu" xử án có một không ai của các "Bao Thanh Thiên" nổi tiếng trong sử Việt

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo