Liên hệ với chúng tôi

Sống

Huyền thoại gần 200 vệ út quyết tử chống lại giặc Pháp, bảo vệ Thủ đô suốt 60 ngày đêm

Lực lượng cảm tử đặc biệt với tên gọi thân thương "vệ út" - những đứa trẻ nghèo mồ côi bán báo, bán bánh mì hay đánh giày lang thang anh dũng chiến đấu với giặc Pháp suốt 60 ngày đêm. Người trẻ nhất mới có 9 tuổi.

Huyền thoại gần 200 vệ út quyết tử chống lại giặc Pháp, bảo vệ Thủ đô suốt 60 ngày đêm

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Huyền thoại gần 200 vệ út quyết tử chống lại giặc Pháp, bảo vệ Thủ đô suốt 60 ngày đêm
Photo: internet

Cuối năm 1946, dù đã ký hiệp ước Sơ bộ và Tạm ước với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quân Pháp vẫn gây xung đột khắp nước. Chúng nã pháo vào Hải Phòng làm hàng nghìn người chết, tàn sát hàng chục người trên phố Hàng Bún (Hà Nội). 

Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của bộ đội và tự vệ Việt Nam, nắm quyền kiểm soát thủ đô Hà Nội. Trong tình thế nguy cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Ban Thường vụ Trung ương Đảng tại Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống Pháp. 

Huyen-thoai-gan-200-ve-ut-quyet-tu-voi-giac-Phap-de-bao-ve-Thu-do-0
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hưởng ứng lời kêu gọi, quân dân Hà Nội đứng lên chống Pháp, dù lực lượng vũ trang Thủ đô chỉ có 5 tiểu đoàn vệ quốc quân, 2.000 cây súng. Mỗi tiểu đoàn có 2-3 khẩu trung liên, 2-3 khẩu tiểu liên và carbin, còn lại là súng trường. Trong khi đó Pháp huy động khoảng 6.500 quân, 40 xe tăng, 19 máy bay và hàng trăm xe quân sự.

Sat cánh cùng 5 tiểu đoàn vệ quốc quân chiến đấu bảo vệ Hà Nội là đội vệ út gần 200 thiếu niên, thành viên nhỏ nhất mới 9 tuổi, lớn nhất 15 tuổi... 

"Vệ út Thủ đô" - Tuổi nhỏ chí lớn

Theo báo Người lao động, đến nay, những vệ quốc ngày ấy người trẻ nhất đã bước sang tuổi 79, còn lại đa phần đều ngoài 80 (dữ liệu năm 2016 - BTV). Thế nhưng, khi nhắc về 60 ngày đêm khói lửa, chiến đấu vào mùa đông 1946, họ vẫn kể lại một cách rành rọt và tràn đầy cảm xúc như tất cả vừa mới diễn ra...

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm - nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô, Trưởng Ban Liên lạc truyền thống quyết tử Liên khu 1 cho biết: 175 Vệ út hầu hết đều xuất thân nghèo khó. Người là con công nhân, người mồ côi cả cha lẫn mẹ, người bán báo, bán bánh mì, đánh giày, thậm chí lang thang, không nhà cửa… Trận đói lịch sử năm 1945 đã đẩy những đứa trẻ phiêu bạt về hội tụ cùng một nơi: Xóm lao động nghèo bãi Phúc Tân ven sông Hồng.

Huyen-thoai-gan-200-ve-ut-quyet-tu-voi-giac-Phap-de-bao-ve-Thu-do-9
Những Vệ út năm xưa giờ đã là những cụ già 80-90 tuổi

Những vệ út: Tống Bá Hiển, Phùng Đệ, Vũ Thị Nhâm, Đặng Văn Tích… đều lớn lên từ bãi Phúc Tân. Trong đó, Phùng Đệ mồ côi cha từ năm 4 tuổi. Nạn đói năm 1945 lại cướp đi người mẹ hiền, ông phải ra bãi Phúc Tân ở nhờ người cô. 

Cách mạng Tháng Tám thành công khi Đệ 12 tuổi. Mùa đông năm 1946, ở tuổi 13, ông trở thành Vệ út và là liên lạc viên Đại đội 15, Tiểu đoàn 103, khu Đông Kinh Nghĩa Thục.

Tống Bá Hiển - thiếu niên quê Nam Định, cũng cư ngụ cùng xóm với Phùng Đệ. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ khi Hiển 16 tuổi. Với tinh thần xung phong, dũng cảm, Hiển được chọn là 1 trong 3 người tự vệ Phúc Tân ghi tên vào đội cảm tử, dự lễ tuyên thệ "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".

Những thiếu niên Phúc Tân ở lại phục vụ chiến đấu còn có cô bé Vũ Thị Nhâm. Nhà Nhâm nghèo lắm, năm 10 tuổi, cô bé đã tự lao động kiếm sống. Khi kháng chiến nổ ra, Nhâm 13 tuổi, là vệ út của Tiểu đoàn 103, làm liên lạc và cứu thương.

Huyen-thoai-gan-200-ve-ut-quyet-tu-voi-giac-Phap-de-bao-ve-Thu-do-7
Các chiến sĩ cảm tử quân chuyển khẩu súng máy thu được của địch ở ngã tư Hàng Đậu về vị trí chiến đấu (Ảnh tư liệu)

“Những cô bé, cậu bé nghèo hằng ngày phải lam lũ kiếm sống, mưu sinh. Thế nhưng, khi giặc Pháp nổ súng cướp Hà Nội, họ không về quê hay đi tản cư mà xin ở lại cùng các chiến sĩ quyết tử quân bảo vệ thủ đô”, đại tá Hàm kể lại.

Vệ út Vũ Thị Nhâm năm nào giờ đã là bà cụ 83 tuổi. Bà Nhâm cho biết, ngày ấy, bà và đồng đội còn quá nhỏ để cảm nhận được sự ác liệt của chiến tranh nên không run sợ trước lằn ranh mong manh sống - chết. Lúc đó, bà và đồng đội chỉ mong được ở lại Thủ đô để tham gia quân đội, chiến đấu và đánh bại những kẻ đã đốt nhà mình.

Quảng cáo

Với tâm trạng như vậy, trong dòng người vội vã rời Hà Nội về các vùng sau lưng địch theo lệnh tản cư kháng chiến, bà Nhâm cùng nhiều bạn thiếu nhi cùng trang lứa ở bãi Phúc Tân đã tìm mọi cách "trốn" lại Thủ đô chiến đấu. Trong những ngày toàn quốc kháng chiến, ngoài những thiếu niên nghèo khó  tham gia Vệ út, điều đáng quý là có một số em nhỏ dù gia đình khá giả hoặc đã tản cư nhưng vẫn tìm đường trở về nội thành tham gia chiến đấu.

Quyết tử vì Thủ đô dấu yêu

Theo bà Nhâm, mỗi đại đội của Trung đoàn Thủ đô có hơn 10 vệ út. Những chiến sĩ cảm tử quân nhí được giao nhiệm vụ liên lạc, đưa công văn, giấy tờ, truyền tin, mật khẩu, mật lệnh chiến đấu, tiếp tế, cứu thương... Những lúc tạm ngưng tiếng súng, vệ út lại cất tiếng hát, múa trên chiến hào, trong lũy cát với các vệ quốc quân.

Một trong những chiến công mà bà Nhâm nhớ nhất là trận đánh tiêu diệt địch vào sáng 7/2/1947 ở chốt Trường Ke, khu Đông Kinh Nghĩa Thục. Bà Nhâm cho biết, mọi ngày đứng từ chốt nhìn lên cầu Long Biên thấy bình thường nhưng hôm đó, giặc Pháp tập trung rất đông. Các vệ út vừa kịp băng qua giao thông hào cấp báo thì quân Pháp đã bao vây 3 mặt để đánh úp chiến lũy Trường Ke, súng bắn như vãi đạn. 

“Lúc này, chúng tôi chỉ có 15 chiến sĩ và mấy khẩu tiểu liên, phải xin cứu viện. Ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ ở bên kia phố nhưng phải đi xuyên qua làn lửa đạn của địch mới tới”, bà Nhâm nhớ lại. 

Theo đại tá Nguyễn Trọng Hàm, trận phòng thủ vị trí chiến lược Trường Ke diễn ra trước khi ta rút quân rời thủ đô 10 ngày. Đây là trận chiến quyết tử bởi nếu để mất Trường Ke và địch án ngữ tại điểm chốt cửa ngõ này thì việc lui quân của ta sẽ vô cùng khó khăn.

Trong giờ phút nguy nan đó, không hề nao núng, vệ út 12 tuổi Trần Ngọc Lai đã xung phong xin trung đội trưởng đi cầu viện. Chưa dứt lời, Lai đã thoăn thoắt bám vào đường máng dẫn nước tụt nhanh xuống vượt qua làn đạn, chạy nhanh về phía ban chỉ huy tiểu đoàn. Khoảng 10 phút sau, Lai trở về cùng đoàn quân cứu viện.

“Chúng tôi leo lên gác, ném lựu đạn xuống. Giặc Pháp thất bại với kế hoạch đánh úp Trường Ke, trong khi ta không có thương vong nào lớn”, nhà Nhâm hồi tưởng.

Huyen-thoai-gan-200-ve-ut-quyet-tu-voi-giac-Phap-de-bao-ve-Thu-do-6
Chiến sĩ vệ quốc quân cảm tử ôm bom ba càng chặn xe tăng Pháp trên phố Hà Nội năm 1946 (Ảnh tư liệu)

Sau đợt tiến công này, Pháp biết có một thiếu niên làm nhiệm vụ giao liên đã dũng cảm, nhanh nhẹn cắt làn đạn đi xin cứu viện. Chỉ huy của giặc ra lệnh cho binh lính phải bao vây bắt sống cậu.

Trong một lần khác, vệ út Trần Ngọc Lai lọt vào vòng vây của lính Pháp, chúng quyết bắt sống cậu nên tràn tới. Lai không nao núng, tháo ngay ngòi nổi quả lựu đạn và ném về phía quân Pháp. Nhiều tên địch chết nhưng Lai cũng bị thương nặng.

Nói đến đây, bà Nhâm rơi lệ: "Không để giặc bắt sống, Lai leo lên máng nước của tòa nhà rồi từ từ gục xuống. Lai hy sinh trên tay các anh trong trung đội”.

Vệ út Trần Ngọc Lai đã anh dũng hy sinh trong những ngày cuối cùng của 60 ngày đêm quyết tử vì Thủ đô thân yêu. Đại tá Trọng Hàm cho biết, tấm gương hy sinh của Lai đã nhanh chóng được truyền đi khắp tất cả các mặt trận. 

Khắp chiến hào Liên khu 1 những ngày sau đó, tấm gương anh dũng hy sinh của Vệ út Trần Ngọc Lai hóa thành sức mạnh trong mỗi chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, thúc giục mọi người xông lên tiêu diệt địch.

Trong lá thư gửi các vệ út sau đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Gần hai trăm thiếu nhiên không chịu đi tản cư, trốn ở lại Hà Nội làm liên lạc, dẫn đường, truyền tin, truyền lệnh, sát cánh chiến đấu cùng Trung đoàn Thủ đô ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống xâm lược. Các em là những vệ út, những thiếu niên yêu nước rất xứng đáng với truyền thống tuổi nhỏ chí lớn, với lời thề quyết tử để Tổ quốc quyết sinh trong cuộc chiến đấu kiên cường 60 ngày đêm bảo vệ thủ đô Hà Nội, mở đầu cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân Pháp". 

Xem thêm: 5 kỷ lục về đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh huyền thoại

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

avatar Đỗ Thu Nga

5 nguyên tắc vàng để bài văn Nghị luận trở nên rõ ràng, thuyết phục

Thiếu đi sự rõ ràng, chặt chẽ trong 1 bài văn thì mọi câu từ chải chuốt chẳng khác gì một tòa nhà đồ sộ thiếu đi nền móng vững chắc, sẽ sụp đổ. Và mọi nỗ lực luyện câu sắp chữ chỉ là vô nghĩa nếu người đọc không nhận được thông điệp mà ta gửi gắm. Vậy phải làm sao để 1 bài văn nghị luận được rõ ràng, thuyết phục?

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo