Liên hệ với chúng tôi

Hay

Giá trị đằng sau những "cái chết" trong văn học

Chúng ta thường nghĩ  “Chết” là sự chấm dứt mọi hoạt động sống, là khi trái tim ngừng đập và hơi thở hóa thinh không, con người được trở về với đất mẹ hóa thành cát bụi muôn đời. 

Giá trị đằng sau những 'cái chết' trong văn học

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Giá trị đằng sau những 'cái chết' trong văn học
Photo: internet

Cái chết” không phải là khái niệm đã đông kết, mỗi nền văn minh với những tôn giáo khác nhau lại có những quan niệm khác nhau về sự ra đi ấy. Phật giáo quan niệm, cuộc đời con người tuần tự theo quy luật: “Sinh – Lão – Bệnh – Tử”, cái chết là lẽ tất nhiên, là điểm hoàn kết trong cuộc đời con người, để được tái sinh luân hồi trong một kiếp sống khác. Hay trong nền văn hóa Trung  Hoa, ta cũng thấy được một biểu tượng huy hoàng của cái chết, loài chim “Phượng hoàng” – biểu tượng của sự tái sinh, hạnh phúc nhân gian. Mỗi lần đi đến điểm cực của cái chết là mỗi lần niết bàn trùng sinh, sự tái sinh mạnh mẽ,  huy hoàng và rực rỡ hơn…Văn chương gắn liền với đời sống tinh thần, là con đẻ của nền văn hóa và là sản phẩm của cơ chế xã hội, nên vì thế biểu tượng “cái chết” trong văn học cũng mang nhiều ý nghĩa và có sự dịch chuyển không ngừng về quan niệm và cách nhìn nhận.

Văn học dân gian, mĩ học bình dân hay đời sống tinh thần nghĩa tình của quần chúng nhân dân lao động. Thế giới của văn học dân gian mộc mạc đơn sơ, giản dị gắn với nếp cảm, nếp nghĩ thô mộc của con người lúc ấy giờ và đó cũng là điểm bắt đầu của văn chương thủa hồng hoang. Nhưng trong chính mạch nguồn thơ ngây ấy cũng bắt đầu xuất hiện hình ảnh “cái chết”. Cô Tấm với bốn lần “chết”,  bốn lần hóa thân để dành lại sự sống, đấu tranh với cái xấu cái ác để giữ gìn hạnh phúc trọn vẹn;  mẹ con Lý Thông với cái chết hóa thành bọ hung trả giá cho những tội ác đã gây ra hay người bà Tích Chu ra đi hóa thân thành loài chim khao khát tìm một suối nguồn tình thương… có thể thấy văn học dân gian, những câu chuyện cổ tích xây dựng hình ảnh “cái chết” gắn liền với sự hóa thân, là cách cái thiện vượt lên chiến thắng trước cái xấu, cái ác, là bảo chứng cho công lý tuyệt đối, là sức mạnh được dân gian cấp nghĩa cho những nhân vật yếu thế và cũng là yếu tố kì ảo tạo nên đặc trưng cho những câu chuyện cổ tích. Nàng Tấm với cái chết đầy bàng hoàng ngay trong chính ngày giỗ cha, đổi lại là cơ hội tiến thân cho mẹ con Cám. Nhưng cái chết ấy không phải là sự vụt tắt hoàn toàn của một tâm hồn thánh thiện mà chỉ âm thầm hóa thân vào một đời sống khác. Chim vàng anh, Cây xoan đào, Khung cửi, Trái thị là bốn lần hóa thân của Tấm, mỗi lần được tái sinh là một lần Tấm tỉnh thức và được cấp thêm sức mạnh tinh thần, một sức phản kháng tiềm tàng chống lại sự độc ác tâm cơ của mẹ con Cám. Để rồi tìm lại được tình yêu và hạnh phúc của chính mình, khẳng định sức mạnh của những điều thiện lành sẽ luôn chiến thắng cái xấu cái ác, là biểu tượng của công lý và niềm tin tạo sinh cái thiện. Còn riêng, với truyện Tích Chu, “cái chết” của người bà còn mang sức mạnh cảm hóa, là thử thách lớn khôn cho cậu bé Tích Chu và cũng là thử thách cho sức mạnh tình thân qua hành trình tìm nước suối tiên để người bà được trở lại làm người. Từ những sự nhìn lại ấy, ta thấy cái chết trong văn học dân gian Việt Nam là “cái chết” hóa thân, “cái chết” mang giá trị nhị nguyên là hành trình tái sinh của cái thiện và sự trừng trị, trả giá cho cái xấu cái ác. 

Gia-tri-dang-sau-nhung-cai-chet-trong-van-hoc-0

Văn học dân gian với những giá trị nhị nguyên đã in tạc nên nét tâm hồn ban sơ mộc mạc trong hồn cốt văn chương. Tiếp nối dòng chảy ấy, gắn liền với sự ra đời của quốc gia dân tộc,của nhà nước phong kiến, văn học trung đại là một sự ghi dấu cho thời kì lịch sử mới với những quan niệm mới ra đời. Văn học gắn với tư tưởng tam giáo đồng nguyên, quan niệm và cách nhìn nhận về cái chết cũng có nhiều sự thay đổi so với thời kì trước. Thuyết “Thiên mệnh” có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần, quan niệm sống chết có số, trời xanh an bài khiến con người ta quan niệm về cái chết là những cột mốc định sẵn không thể cưỡng cầu, và người ta cũng nghĩ cái chết có sức mạnh gì đó lớn lao là minh chứng cao nhất cho một đức tin. Là cách định giá cho phẩm hạnh dù cực đoan nhưng mạnh mẽ nhất. Vũ Nương – hình tượng người phụ nữ kinh điển cho cả nền văn học trung đại, “nết na thùy mị, tư dung tốt đẹp” là mẫu người phụ nữ quy chuẩn cho “tam tòng tứ đức”, suốt 3 năm đợi chờ thủy chung, làm tròn đạo hiếu, nuôi dưỡng con nhỏ để rồi nhận lại là một người chồng trở về từ chiến trận với đầy những mặc cảm và sự hoài nghi. “Chiếc bóng” trên vách tường tưởng chừng là hiện thân của tình thương nhưng lại là nỗi oan khoan nghiệt ngã, đẩy cuộc đời tiết hạnh ấy vào bi kịch đường cùng. “Cái chết” đến với Vũ Nương là một sự tự lựa chọn, trầm mình xuống bến sông Hoàng Giang, mong cầu sự chứng giám của thần linh có lẽ cách duy nhất để một người phụ nữ yếu thế trong xã hội nam quyền có thể chứng minh cho sự trong sạch. “Cái chết” đầy ý thức phẩm giá của Vũ Nương không chỉ làm sáng tỏ nỗi oan khuất, trả lại sự trong sạch thủy chung cho nàng mà còn tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc, có sức đồng vọng ngân vang trong trang văn muôn đời. Thật vậy, “cái chết”  trong văn học Trung Đại, không đơn thuần là cái chết nhị nguyên, chấm dứt sự sống mà hình ảnh “cái chết” còn mang đầy ý thức về phẩm giá, cái chết là hành động cao nhất cho tấm lòng thủy chung, minh chứng mạnh mẽ nhất cho tiết hạnh cao đẹp, và cũng có khi “cái chết” là cách trả món nợ công danh, món nợ nghĩa tình. Chẳng phải, nàng Kiều trong hành trình mười lăm năm lưu lạc cũng từng nhiều lần nghĩ đến “cái chết”, nhiều lần đã đến rất gần với “cái chết”. Nhưng có lẽ hình ảnh ý thức về “cái chết” xuất hiện cuối cùng và cũng là ám nhất trong thiên bạc mệnh của của đời Kiều là khoảnh khắc nàng tự trầm trên sông Tiền Đường ngay trong ngày đưa dâu khi bị ép gả cho viên thổ quan. Khoảnh khắc ấy có lẽ tâm hồn Kiều đã chết, cách lựa chọn “cái chết” phải chăng là sự tự giải thoát, chống lại định mệnh an bài của thuyết “Thiên Mệnh” và cũng là để gìn giữ lại một chút tấm lòng trinh bạch, phẩm giá không thể bị quấy đục thêm nữa. Đó là cách nàng bày tỏ tình cảm thủy chung son sắc của mình dành cho Từ Hải, tận nghĩa phu thê với chàng, báo đáp một ân nghĩa “tâm phúc tương giao”, kết thúc một mối duyên “Lầu hồng”. Những “cái chết” trong văn học trung đại đa phần đều là những sự tự lựa chọn để minh chứng cho một lí tưởng cao đẹp, chết để bảo vệ những phẩm chất tốt đẹp hay “cái chết” là cách phản kháng lại hoàn cảnh tăm tối lên án xã hội bất nhân đây con người vào những bi kịch đường cùng.

Quảng cáo

Đi qua văn học dân gian, văn học trung đại, văn chương với những sứ mệnh đổi mới, sáng tạo không ngừng để làm mới đời sống văn chương. Thời gian thay đổi, dòng đời chảy trôi với bao sự biến thiên của đời sống có khả năng làm mai một mọi chân lý, làm phai nhòa mọi giá trị. Quan niệm về “cái chết” trong văn học hiện đại, đương đại có nhiều sự dịch chuyển, đối thoại lại với những quan niệm xưa cũ. Nếu như trong truyện cổ tích, “cái chết” bao giờ cũng mang ý nghĩa,  giá trị thiện lành nào đó thì ngày nay, với những câu chuyện đời thường quẩn quanh, có những cái chết vô nghĩa mà người ta dễ dàng quên đi như bao chuyện khổ đau trên cuộc đời. Câu chuyện “ Trái tim hổ” trong hành trình về Hua Tát của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, mang dáng dấp của một câu chuyện cổ tích với mô-típ “anh hùng-mĩ nhân”, nhưng với tư cách người kể chuyện hiện đại, Nguyễn Huy Thiệp không kể lại câu chuyện ấy với những diễn biến thường thấy trong truyện cổ tích, mà đưa cổ tích về với đời thường, bình dị và thô mộc như chính miền rừng thiêng nước độc tây bắc phủ định hoàn toàn những gì đã từng có. Pùa vừa tuổi trăng tròn xinh đẹp nhưng bị liệt hai chân, Khó chân thành dũng cảm nhưng dị dạng, không cha không mẹ sống như “con dom, con din”. Hành trình săn hổ để lấy trái tim chữa bệnh cho Pùa của Khó quả là một điều phi thường. Tất cả trai bản Hua Tát và cả những người vì cám dỗ của trái tim hổ mà bắt đầu hành trình đi săn ấy, không bỏ mạng dưới vuốt hổ thì cũng phải trắng tay ra về. Nhưng Khó thì khác, chàng không vì cám dỗ, hư vinh từ trái tim hổ mà dấn thân, chàng lên đường là vì lý tưởng tình yêu, vì một khát khao đầy tình người, một khát vọng cứu dỗi dạt dào là hành trang và cũng là sức mạnh lớn nhất để chàng ra đi tìm trái tim hổ - tìm hạnh phúc cho người mình yêu. Chuyện tình của Khó và Pùa cùng những chân tình đẹp như cổ tích ấy tưởng chừng sẽ là khởi nguồn cho một kết thức viên mãn, nhưng không,  kết cục của câu chuyện đối thoại, phủ định hoàn toàn mọi vẻ đẹp cổ tích. Khó bắn được hổ, chiến thắng được ác thú sau một trận vật lộn dữ dội. Hổ đã chết nhưng trái tim hổ cũng bị đánh cắp, mọi khát vọng hạnh phúc gẫy đổ. Khó mang đầy những vết thương quằn quại bên khe suối ôm một trái tim vụn vỡ, Pùa tuyệt vọng đau đớn khi cơ hội được bình phục duy nhất vừa vụt tắt. Trong mùa đông năm ấy của bản Hua Tát, có thêm hai người chết và người ta quên đi câu chuyện về trái tim hổ một cách phũ phàng. Cái chết của Khó không hẳn là vô nghĩa, nhưng cái chết ấy không bảo vệ cho một chân lý, cũng không thiết lập hệ giá trị công bằng, không cứu được Pùa, không đem lại hạnh phúc cho những tâm hồn thiện lương. Cái chết lẫn vào với bao điều đau khổ trên thế gian, nhưng chính sự vô nghĩa ấy lại khiến ta thoát ra khỏi thế giới màu hồng của cổ tích, tỉnh táo hơn trong đời thực và nhận ra quy luật đã khác của đời sống. Cái thiện chưa chắc đã chiến thắng được những điều xấu xa, lòng tin đôi khi cũng mong manh, khoảng cách giữa anh hùng và kẻ đáng thương đôi khi cũng chỉ trong gang tấc, “Trái tim hổ” thật sự bị đánh cắp hay nó chưa bao giờ tồn tại? Có chăng là những cám dỗ phù phiếm che mờ lí trí vẫn thường đẩy con người ta vào tuyệt vọng? “Cái chết” vô nghĩa đối thoại lại với sự mang nghĩa của cổ tích. Đã lật mở nhưng suy tư, đặt ra vấn đề về sự nhìn nhận mới trong cuộc sống hiện đại với những quy luật đã thay đổi hoàn toàn. Còn trong văn học trung đại, cái chết có giá trị minh chứng, có khả năng định nghĩa phẩm giá hay trong văn học 1945-1975, sự hi sinh là tận nghĩa với lý tưởng dân tộc, chết để trở thành bất tử, nằm xuống thành những anh hùng… Thì trong văn học đương đại, đặc biệt là những tác phẩm mang màu sắc thế sự đời tư, “Cái chết” được định nghĩa vô cùng đa dạng phong phú và có sự nhìn lại thức tỉnh đầy mạnh mẽ. Không phải chết vì những lí tưởng lớn lao, xả thân vì non sông xã tắc mới đáng được trân trọng. Con người ta thèm yêu khát sống, sự sống ở nhân gian có kéo dài bao nhiêu cũng là chưa đủ, nhưng có những nhân vật trong văn học đương đại dám chọn “cái chết”, dám dũng cảm đối diện với tử thần chỉ vì một nỗi niềm riêng tư. Phải nhìn nhận họ là những con người dũng cảm và liều lĩnh, lí tưởng của họ dù không lớn lao nhưng cũng là lẽ sống được chính họ tôn thờ, là giá trị bất diệt của cá nhân mà họ sẵn sàng chết vì điều ấy. Xuyên trong “Khi người ta trẻ” cũng lựa chọn “cái chết” , chết vì tình. “Cái chết” được sắp đặt trước của Xuyên khiến tất cả mọi người bàng hoàng, thương xót, có thể nói Xuyên sống cho tình yêu và cũng chết trọn vẹn cho tình yêu ấy, tình yêu đối với Xuyên là lẽ sống. Có thể Xuyên mù quáng,tăm tối không nhận ra bản chất mối quan hệ mà Vỹ dành cho cô chỉ là sự vui chơi qua đường, cái chết của Xuyên không hề lay động đến tâm hồn Vỹ, nó vô nghĩa với người vốn không yêu cô. Nhưng nhìn lại ta cũng thấy ở Xuyên một khát tình yêu mạnh mẽ, một tuổi trẻ rực cháy với lí tưởng tình yêu, dám chết vì tình không phải là một điều dễ dàng, những người dám chết vì tình lại càng không phải những con người tầm thường. Người ta không chết vì những điều vô nghĩa, chọn lấy cái chết đôi khi là để sống trọn vẹn với khát vọng nào đó đang đứng trên bờ vực tan vỡ. Không cổ súy, chết vì tình là cái chết đúng đắn, nhưng nhìn lại đằng sau những con người đã dám vứt bỏ sự sống vì điều ấy sẽ không phải là những lời cười chê, mà nên có là thái độ xót thương, đồng cảm, nỗi quan hoài động vọng về tuổi trẻ với những giá trị nhân bản.

Biểu tượng “cái chết” trong văn học có sự dịch chuyển không ngừng, nhưng ở bất cứ thời kì nào khi nhà văn xây dựng hình ảnh biểu tượng ấy, đẩy nhân vật đến điểm cực của cái chết đều với một mục đích chung. Tạo ra sức lay động lớn, sự tỉnh thức mạnh mẽ hay khơi gợi một nỗi niềm đồng cảm sâu sắc, tạo ra những khoảng trắng ngôn từ để bạn đọc được suy tư, nhìn nhận lại những giá trị đời sống. “Cái chết” đôi khi là lối thoát, là con đường thành nhân duy nhất của nhân vật, là cách thức để nhân vật sống đủ đầy trọn vẹn hơn với một lý tưởng nào đó. Cũng có khi cái chết mang tính đối thoại gắt gao với những giá trị sống, cái chết buộc con người ta phải dằn vặt, day dứt tìm ra cách sống khác, “Cái chết” là thế giới khả nhiên đáng sợ nhất được văn học dựng nên để cảnh tỉnh con người khỏi những tăm tối, sai lầm. Vẫn biết “cái chết” gắn với những gì đau đớn, chua xót nhưng cũng là phương cách mạnh mẽ nhất, có tác động lớn nhất vào tâm thức bạn đọc. Từ sự hoang mang, lo âu, sợ hãi, thương xót ấy hình thành những ý thức sống kiên định, vững vàng hơn, thức nhận ra nhiều giá trị nhân sinh sâu sắc. Đối với văn học, “Chết đi là để còn sống mãi”, tác phẩm văn chương viết về cái chết với một tấm lòng tha thiết yêu sự sống, khát khao tạo sinh những giá trị sống trong mới quan hệ đối lập với cái chết làm nên giá trị nhân bản muôn đời cho văn chương.

(Theo Quang Vinh - THPT chuyên Sơn La)

Xem thêm: Văn học có thể mang những phận người rất xa lại gần nhau

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo