Liên hệ với chúng tôi

Sống

Huyền tích ly kỳ xung quanh chuyện sinh - tử của cha con vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông

Theo ghi chép của sử cũ, cha con Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tôn đều là con cầu tự. Và đến khi khuất núi cũng có nét tương đồng nhau dù công nghiệp, thời gian trị vì dài ngắn dị biệt.

Huyền tích ly kỳ xung quanh chuyện sinh - tử của cha con vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Huyền tích ly kỳ xung quanh chuyện sinh - tử của cha con vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông
Photo: internet

Lê Thánh Tông (25/8/1442 - 3/3/1497) là hoàng đến thứ 5 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông là vị vua có công nghiệp  trị nước thâu tóm khắp các lĩnh vực, được tôi thần dưới quyền xưng tụng, như lời bài tán của quan Thân Nhân Trung soạn, có đoạn viết: “Đức vua Thánh Tông, Nghiệp lớn thừa kế. Lịch số về mình, Thần dân thỏa chí. Giữ báu nắm phù, Phát lệnh chính vị…”.

Còn Lê Hiến Tông (6/9/1461 - 24/6/1504) là hoàng đế thứ 6 của nhà Hậu Lê (con trai Lê Thánh Tông). Ông cai trị đất nước 7 năm với thành công trong việc duy trì nền pháp chế mà Thánh Tông đã đặt ra cũng như sự thịnh vượng của Đại Việt. Lê Hiến Tông là người yêu văn học, tiết kiệm tiêu dùng, thận trọng hình phạt và luôn gần gũi với bề tôi. Ông cũng chăm lo giáo dục, nông nghiệp, thủy lợi, cải thiện đời sống nhân dân và củng cố quân đội. 

Xung quanh cha con đế vương này có rất nhiều huyền tích ly kỳ và một trong số đó chính là chuyện sinh - tử trùng hợp:

Sinh ra từ "giấc mộng"

Đại Việt sử ký toàn thư có viết, thời trị vì của vua Lê Thánh Tông được ca ngợi: "Vua sinh ra thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước”. Thiên tư, thần sắc của vua quả là hiếm có. Cũng vì thế mà khi vua sinh ra đã gắn với huyền tích thiêng liêng cho ứng với bậc minh quân. 

chuyen-sinh-tu-trung-hop-den-la-cua-cha-con-vua-le-thanh-tong-3
Tranh vẽ vua Lê Thánh Tông

Đại Việt thông sử có viết, mẹ vua Thánh Tông là Quang Thục Hoàng hậu, họ Ngô, húy là Dao, người xã Động Bàng (huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa). Ông nội là Ngô Kinh, gia thần của Tuyên Tổ (tức Tuyên Tổ Phúc hoàng đế là Khoáng, cha Lê Lợi), về sau được phong là Thái phó. Cha bà là Ngô Từ, là gia thần của vua Thái Tổ, có công trong việc cung cấp quân lương, được phong chức Thái bảo. Nhà bà bấy giờ ở Thăng Long. Chị gái là Ngô Thị Ngọc Dao, tên là Xuân, hầu vua Thái Tông ở hậu cung. Bà theo chị vào nội đình, nhà vua trông thấy gọi vào làm cung tần. Được gần vua, hầu trong cung cấm, "Toàn thư" cho biết, bà Ngọc Dao hay đi cầu tự, mơ thấy thượng đế ban cho một tiên đồng, thế rồi có thai.

Trong Dã sử viết, bà Ngọc Dao được Thái Tôn yêu cho gần gũi, có thai, đúng hẹn sinh con trai, mặt rồng, trán cao, tướng mạo khác thường. Lớn lên thông minh đĩnh đạc, ham học, có tài văn thơ. 

Sử sách cũng ghi chép, trước khi mang thai, bà Ngọc Dao mơ thấy mình đến chỗ Thượng đế. Ngài sai tiên đồng xuống làm con Thái hậu, làm vua nước Nam, cùng Ngọc Nữ kết tóc trăm năm nhưng tiên đồng không chịu đi. Thượng đế nổi giận, cầm ngọc khuê (“Toàn thư” và “Đại Việt thông sử” viết là cái hốt ngọc), ném vào trán chảy máu ra. 

Sau đó tiên đồng phải vâng mệnh, xin cho người theo giúp. Thượng đế liền chỉ một người trong đám các Tiên theo giúp. Vị tiên được chỉ định cúi đầu chối từ không đi, Thượng đế tức giận, đá vào tai.

Khi Thái hậu Ngọc Giao sinh Thánh Tông trên trán còn hằn rõ vết sẹo như trong mộng. Thái hậu hay kể chuyện này cho Thánh Tông nghe. Khi Thánh Tông lên ngôi, Thái hậu nhớ đến giấc mộng cố tìm Ngọc Nữ làm vợ vua nhưng chưa lựa chọn được nên trong lòng không vui. 

chuyen-sinh-tu-trung-hop-den-la-cua-cha-con-vua-le-thanh-tong-7
Bìa sách về vua Lê Hiến Tông

Một hôm, trong cung tiến hành cuộc thi sắc đẹp, các cô gái có tài hoa đều trổ tài nhạc, họa. Thái hậu để ý một cô gái xinh đẹp, theo phường hát vào cung múa hát, vẫn ngồi một bên gõ nhịp. Khi xe của vua và Thái hậu đi tới, sắp lên ngực tọa thì cô mới gõ nhịp mà hát, tiếng du dương như điệu hát trên cung tiên. Thái hậu giật mình làm lạ, hỏi ra mới biết đó là cháu họ của Tế Văn hầu Nguyễn Trãi. Thấy người này hiền lành, nhàn nhã, xinh đẹp nên vời vào cung phong làm Trường Lạc Hoàng hậu.

Xét trong “Đại Việt thông sử” thì Trường Lạc Hoàng hậu vợ vua Thánh Tông được nói tới trong “Dã sử” không có quan hệ họ hàng với Nguyễn Trãi, bởi bà họ Nguyễn, huý là Huyên, người ở trang Gia Miêu ngoại, huyện Tống Sơn (huyện Hà Trung, Thanh Hóa nay), là con gái thứ hai của ông Nguyễn Đức Trung được tặng hàm Thái uý Trinh quốc công. Sau này, Trường Lạc Hoàng hậu, hay là Huy Gia hoàng thái hậu bị cháu mình là Lê Uy Mục đầu độc chết. 

Theo Dã sử, khoa Đinh Mùi (1463) thi Cống sĩ. Đến ngày gọi tên người đỗ, Trạng nguyên Lương Thế Vinh ra mắt, vua Thánh Tông ngó thấy hai vai lệch không cân nhau nên lấy làm lạ, truyền cho vào yết kiến Thái hậu. Bà trông đúng như vị Tiên trong mộng năm xưa được sai xuống hầu tiên đồng nên cả mừng, trao cho chức Hàn lâm thị giảng, trở thành một trọng thần thời Hồng Đức. 

chuyen-sinh-tu-trung-hop-den-la-cua-cha-con-vua-le-thanh-tong-2
Dụ Lăng thờ vua Lê Hiến Tông ở Thanh Hóa. Ảnh: Vietlandmarks.com

Tâm khôi lục ghi chép, Trạng nguyên Lương Thế Vinh trong thực tế góp nhiều công lao giúp rập cho vị vua sáng Thánh Tông, “Việt sử diễn âm” cũng ghi nhận:

Trời lại sinh người hiền tài,

Trạng Lường hiền ngõ rập đời toan lo.

Quảng cáo

Rồng vàng nhập mộng

Còn vua Hiến Tông chính là con trai của Thánh Tông và Hoàng hậu Trường Lạc. Dù thời gian trị vì không dài nhưng ông được đánh giá là người có lòng nhân ái, hiếu thuận. Khi nối ngôi vua cha, Hiến Tông làm việc gì cũng noi theo sách thánh hiền, nghĩa là bất cứ việc gì, ngài cũng đều không vượt qua khuôn phép sẵn có của các vị Đế vương đi trước.

Và điều đáng nói, cả vua Thánh Tông và Hiến Tông đều được sinh ra từ giấc mộng và đi cầu tự. Cụ thể, trong Lịch triều hiến chương chí có viết: "Trước kia Thánh Tông chưa có con, có sai cầu đảo ở núi Phật Tích, am Từ công [Từ Đạo Hạnh], được điềm tốt đá bay. Bấy giờ Trường Lạc ở cung riêng, chiêm bao thấy con rồng vàng bay vào chỗ ở, bèn sinh ra vua”. 

Điềm tốt đá bay được Phan Huy Chú nói, tìm trong Đại Việt thông sử thì thấy cặn kẽ hơn. Theo đó, Hoàng hậu Trường Lạc sau khi được tuyển vào cung năm Canh Thìn (1460) thì được Thái hậu Ngọc Dao sai ông Đức Trung, bố của Sung nghi Nguyễn Thị Huyên cầu đảo ở am Từ Công núi Phật Tích. Sau đó, Sung nghi chiêm bao thấy trước thượng đế, xin thượng đế ban cho có con nối ngôi. Thượng đế phán rằng: “Cho Thiên Lộc xuống làm con họ Nguyễn”, rồi bế tới đưa cho, nhân đó bà tỉnh dậy, không bao lâu bà có mang.

Thái hậu lại sai ông Đức Trung cầu đảo ở am Từ Công, Khi vừa mới làm lễ thì có hòn đá rơi xuống. Ông Đức Trung thấy lạ, nhặt lên, rồi sai thợ tạc một pho tượng, bỏ hòn đá vào trong. Lại làm riêng một cái am để thờ, giấu kín việc này.

Đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, Sung nghi Nguyễn Thị Huyên nằm mộng thấy rồng vàng từ trên trời hiện xuống, bay vào nơi bà ở. Trong chốc lát sinh hoàng tử - vua Hiến Tông.

Thiên Phúc tự bi ký của chùa Thiên Phúc (chùa Thầy) do Nguyễn Bá Bằng soạn, có nói rằng Trường Lạc hoàng thái hậu có điềm rồng vàng nhập vào sườn bên tả. Xét ra, cũng tương tự thuyết trên. 

Chết cùng nguồn cơn

Cha con Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông đều sinh ra từ giấc mộng và do cầu tự. Đến khi khuất núi cũng có những nét tương đồng giống nhau dù công nghiệp khác nhau, thời gian trị vì dài ngắn dị biệt. 

chuyen-sinh-tu-trung-hop-den-la-cua-cha-con-vua-le-thanh-tong-8

Về vua Lê Thánh Tông, trong lịch triều hiến chương loại chí có viết: Nguồn cơn băng hà là về già, dâm duc khá nhiều, mắc tật phong thũng. Toàn thư có viết: "Tiếc rằng vua nhiều phi tần quá, nên mắc bệnh nặng. Trường Lạc Hoàng hậu bị giam ở cung khác, đến khi vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn ngầm giấu thuốc độc trong tay mà sờ vào chỗ lở, bệnh vua do vậy mới lại thêm nặng”.

Về vua Lê Hiến Tông, Ngự chế Việt sử tổng vịnh có đề cập: "“Mấy năm sau, vì đàn bà con gái vào yết kiến nhà vua quá nhiều, cho nên Ngài phải mang bệnh rồi băng hà”. Cũng sách này, trong thơ viết về Hiến Tông, đề cập đến cả tiền nhân, tức cha mẹ của vua:

Oán ngẫu tằng tri Trường Lạc sự,

Sắc hoang do tự hiệu tiền nhân.

Tạm dịch:

Nỗi oán từng nghe Trường Lạc hậu,

Hoang dâm lại bắt chước tiền nhân. 

Theo Wiki, Pháp luật Việt Nam, Báo An Giang)

Xem thêm: Vương triều có nhiều cải cách táo bạo nhất nhì thời phong kiến nhưng vẫn mất nước vì lý do này

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo