Liên hệ với chúng tôi
Quảng cáo

Đạo

Chú Chuẩn Đề là gì và nghi thức trì tụng Chú Chuẩn đề đúng nhất

Trì tụng Chú Chuẩn Đề mang đến hạnh phúc, an lành vô lượng cho chúng sanh. Nhưng trong quá trình trì tụng Chú này cần thật tịnh tâm, kiên trì.

Chú Chuẩn Đề là gì và nghi thức trì tụng Chú Chuẩn đề đúng nhất

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Chú Chuẩn Đề là gì và nghi thức trì tụng Chú Chuẩn đề đúng nhất
Photo: internet

Chú Chuẩn Đề là gì?

Chú Chuẩn Đề là thần chú mạnh của Phật giáo. Chú Chuẩn đề có thể giúp khai mở trí tuệ Bát Nhã, giúp người trì tụng gặp nhiều thuận lợi trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

Chú Chuẩn Đề theo tiếng Phạn là Cundì, Cunïdïhi (चुन्दी), dịch nghĩa là Năng hành, Thành thực hay Thanh tịnh. Năng hành nghĩa là Bồ tát có thệ nguyện rộng lớn, trí tuệ sâu xa, đầy đủ mọi năng lực để làm bất cứ việc gì cũng đều đem đến lợi ích cho chúng sanh. 

Bồ tát có công năng vi diệu, từ nơi pháp Không tưởng quán ra pháp giả, khiến chứng đắc cảnh giới Niết bàn, bạt trừ mọi vọng huyễn sinh tử. Thanh tịnh nghĩa là Bồ tát đác chứng đắc được bản tâm, khéo an trụ trong sự tánh thanh tịnh. 

chu-chuan-de-la-gi
Chú Chuẩn Đề là loại chú mạnh trong Phật giáo

Chuẩn Đề có tên đầy đủ là Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề. Theo Nhị khóa hiệp giải thì Câu chi nghĩa là trăm ức, Thất câu chỉ là bảy trăm úc, Phật mẫu là mẹ sinh ra chư Phật. Danh hiệu Thất Câu Chi Phật mẫu Chuẩn Đề có nghĩa là thời quá khứ đã có bảy trăm úc Bồ tát do tu pháp môn thành tựu Phật quả cũng phải nương theo pháp môn này để tu hành. 

Phật Mẫu Chuẩn Đề được hai vị vua rồng (naga) đứng canh giữa đài sen của mình. Hai vị vua rồng này là Nanda và Upananda. Việc tụng niệm thần chú Phật Mẫu Chuẩn Đề  (Cundi Mantra) được tìm thấy ở khắp mọi nơi vùng Đông Á và Phật giáo Tây Tạng.

Có lần, Đức Phật đang ngồi thiền trong vườn Anathapindika thuộc khu rừng Jetavana gần thành phố Sravasti. Thời điểm đó, Ngài đã quán chiếu và quan sát tương lai của chúng sinh. Với lòng bi mẫn lớn lao đối với họ, Đức Phật quyết định mô tả về Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (Cundi Dharani Sutra), trái tim của người mẹ trong Bảy Câu chi (Kotis) Phật. Như vậy, Đức Phật đã tiết lộ thần chú:

Namaḥ Saptānāṃ Samyaksaṃ Buddha Koṭīnāṃ Tadyathā:

Namaḥ: Tôi trú ẩn trong Mẹ của chư Phật

Saptānām: Bảy

Samyaksaṃbuddha: Giác ngộ hoàn hảo

Koṭīnāṁ: Một Koti tương đương với mười tỷ

Tadyathā: Như vậy, nó được tuyên bố như vậy

Oṃ Cale Cule Cunde Svāhā hoặc Om Cale Cule Cundi Soha

Oṃ: Một từ thiêng liêng trong Ấn Độ giáo. Nó được coi là một biểu tượng âm thanh ban đầu của vũ trụ.

Cale: Một biến thể của tên Cundi

Cule: Một biến thể khác

Cundī: Sự tinh khiết của Phật Mẫu Chuẩn Đề

Svāhā: Có thể đó là sự thật!

Tôi quy y trước bảy mươi triệu hoàn hảo giác ngộ chư Phật. Như vậy: Om! Chuẩn đề! Chuẩn đề! Cầu mong lời nguyện thanh tịnh này có thể là sự thật!

Tiếng Việt:

Khể thủ quy y Tô Tất Đế,

đầu diện đảnh lễ Thất Câu Chi,

Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề,

duy nguyện từ bi thùy gia hộ.

Nam mô tát đa nẫm tam miệu,

tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha

Úm, chiết lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề ta bà ha

Trì tụng Chú Chuẩn Đề có lợi ích gì?

Theo giáo lý nhà Phật, trì tụng Chú Chuẩn Đề có lợi ích vô cùng lớn. Theo đó, nếu một vị tu sĩ niệm thần chú 800.000 lần, tất cả các nghiệp xấu mà người đó tạo ra sẽ bị loại bỏ. Họ sẽ có cơ hộ gặp đượcc ác vị Phật và Bồ tát bất cứ nơi nào sinh ra và được ban phước tương ứng với những công đức mà người đó đã tích lũy. Họ sẽ có cơ hội loại bỏ sự hiện hữu thế gian trong mọi đời, giữ gìn các giới luật và lời khấn của Bồ tát.

Trì tụng Chú Chuẩn Đề sẽ luôn được sinh ra trong cõi người, cõi trời, không bao giờ tái sanh vào những con đường tà ác, luôn được chư Thiên bảo vệ. Nếu bất kỳ người Phật tử nào tôn trọng và đọc thuộc lòng Chuẩn Đề Đà la ni kinh hoặc thần chú Chuẩn Đề, gia đình sẽ không gặp phiền muộn, tai ương. Tất cả mọi thứ của người đó đều tốt lành.

chu-chuan-de-la-gi-0

Trong trường hợp niệm thần chú này  200.000 lần, người đó sẽ mơ về các vị Phật, Bồ tát, và các vị giác ngộ khác. Họ sẽ thấy một chất đen bị nôn ra khỏi miệng.

Nếu người nào phạm 1 trong 5 tội ác, và không thể có được giấc mơ tuyệt vời này thì nên khuyên họ niệm 700.000 lần. Sau đó, họ sẽ nhận được dấu hiệu may mắn trong giấc mơ. Trong giấc mơ, họ sẽ thấy mình nôn ra một chất trắng như bột gạo dày, đó là dấu hiệu của sự thanh lọc nghiệp chướng.

Những người niệm Chú Chuẩn Đề còn gặp được may mắn trong công việc, chiến thắng các cuộc tranh chấp...

Nghi thức trì Chú Chuẩn Đề đúng nhất

1. Trước hết phải rửa tay, rửa mặt, súc miệng, thay quần áo cho sạch sẽ rồi mới đến trước Phật đài mà lễ niệm.

Rửa mặt thì niệm chú rằng: An lam sa ha (3 lần)

Rửa tay thì niệm chú rằng: An chu ca ba du sa ha (3 lần)

Súc miệng thì niệm chú rằng: An ham an han sa ha (3 lần)

Lời dặn: Trì chú được thì sự rửa mới được toàn sạch.

(Không được đi dép, guốc dơ bẩn vào Phật điện. Móng tay cắt ngắn và cậy sạch ghét. Hai ống quần phải buộc kỹ hay mặt quần đùi nịt kỹ hạ bộ cũng được).

2. Thắp ba nén hương vái ba vái vừa vái vừa kiệm rằng (ai thuộc kệ thì đọc kệ):

Bài kệ dâng hương:

Giới hương định hương dữ tuệ hương.

Giải thoát giải thoát tri kiến hương

Quang minh vân đài biến pháp giới

Phả cúng thập phương Tam bảo tiền.

Nam mô Hương Cúng Dàng Bồ Tát (3 lần) (1 lễ).

3. Khi cắm hương vào lư rồi thì niệm chú “Phả Lễ Tam Bảo rằng”:

Án phạ nhật la vật (3 lần)

Niệm rồi lễ Phật ba lễ và mỗi lễ xướng rằng:

- Nam mô thập phương tận hư không giới nhất thiết chư phật (1 lễ).

- Nam mô thập phương tận hư không nhất thiết tôn pháp (1 lễ).

  • Nam mô thập phương tận hư không giới nhất thiết hiền thánh tăng (1 lễ)
chu-chuan-de-la-gi-8

4. Thỉnh chuông (đánh một hồi dài, điểm 3 tiếng chót – ai thuộc kệ thì đọc kệ rồi hãy thỉnh chuông càng hay)

Kệ thỉnh chuông:

Nguyện thử chúng sinh siêu pháp giới

Thiết vi u ám tất giao văn

Quảng cáo

Văn trần thanh tịnh chứng viên thông

Nhất thiết chúng sinh thành chính giác (Đánh 1 hồi độ mười tiếng: tiếng chuông gần dứt, lại đọc tiếp):

Văn chung thanh, phiền não khinh, Trí tuệ trưởng, Bồ đề sinh; Ly địa ngục, Xuất hòa khánh, Nguyện thành Phật, độ chúng sinh.

Đánh 1 tiếng, lại đọc tiếp:

Án già ra đế gia sa ba ha

5. Ngồi theo cách Kim Cương tọa có 2 phép:

a. Toàn già: (bàn chân trái gác trên vế hữu, rồi bàn chân hữu gác trên vế trái).

b. Ngồi bán già: Có hai cách: (1). Chân bên mặt gác lên trên vế trên về bên trái thôi, thế gọi là “Hàng ma tọa”; (2) Chân bên trái gác lên trên vế bên mặt, gọi là “Cát tường tọa”

6. Hai tay kết ấn “tam muội” nghĩa là lấy bàn tay phải duỗi ngay ra, để ngửa lên bàn tay trái, rồi hai ngón cái giáp móng với nhau, để ngay dưới rốn (lúc ngồi niệm Phật cũng vậy).

7. Thân cho ngay ngắn, tâm cho an tĩnh, có tượng hay tranh Phật thì mắt lim dim chiêm ngưỡng Tôn dung rồi tưởng trên đỉnh đầu có mọt chữ “Lãm” rất tròn sáng như ngọc Châu Như ý hay như mặt trăng ngày rằm soi sáng chiếu vào đầu mình làm tan hết các tai chướng; cứ thé chuyên chú vào một chỗ, đừng để tâm tán loạn đi đâu.

8. Tưởng thế rồi xả ấn Tam muộn qua đỉnh đầu, tay rái kết ấn “Kim Cương quyền”, nghĩa là: đầu ngón tay cái bấm vào cuối đốt ngón tay vô danh đeo nhẫn rồi co cả 4 ngón tay nắm chặt ngón tay cái.

Tay mặt cầm tràng (nếu không tiện thì tay trái cầm tràng, tay phải kết ấn Kim Cương quyền, tùy ý), rồi tụng:

Tịnh Pháp giới Chân ngôn: Án Lam (108 lần)

Hộ Thân Chân ngôn: Án Xỉ Lâm (108 lần)

Lục tự Đại minh Chân ngôn: Án, ma ni bát minh hồng (108 lần)

Xả ấn chắp tay niệm bài kệ “Cầu gia hộ” rằng:

Cúi đầu quy kính pháp viên thành

Đỉnh lễ đủ bảy trăm ức Phật

Con nay xưng tán Đức Chuẩn Đề.

Nhờ lượng từ bi thương ủng hộ.

9. Kế xướng:

Nam mô thất câu chi Phật mẫu Đại Chuẩn Đề vương Bồ tát (vừa xướng vừa lễ ba lễ).

10. Lại ngồi Toàn già hay Bán già, tay kết ấn Chuẩn Đề: hai ngón vô danh xỏ lẫn nhau nắm vào lòng bàn tay, ngón mặt ở trên, 2 ngón giữa chập lại nhau đứng thẳng, 2 ngó trỏ úp vào đốt giữa của hai ngón giữa, hai ngón cái để trên đốt ngón giữa, ngón út úp tay mặt. (Muốn kỹ vào chùa hỏi các cụ hay xem tượng đức Quan Âm)

Ai không kết ấn Chuẩn Đề được thì kết ấn Kim Cương quyền như tren, rồi tụng Chuẩn Đề Chân Ngôn:

Nam mô tát đá nẫm, tam điểu tam bồ đà câu chi nẫm, đát điệt tha, án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề: Nguyện tiêu tai chướng; Nguyện giáng cát tường; Nguyệt trưởng thiện căn; Nguyện sinh Tịnh độ, Sa bà ha, bộ lâm (21 lần).

Xong lại chí tâm tưởng chữ “Lãm” (vị nào tinh tiến tụng được 49 ngày, sẽ cố tưởng cả đủ 9 chữ ở phần Phụ lục) rồi tụng tiếp:

Án, Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, Sa Bà Ha, Bộ Lâm (108 lần)

11. Niệm đủ rồi, xả ấn lên đỉnh đầu, tay phải kết ấn Kim Cương quyền mà ấn theo thứ tự vào 5 chỗ sau:

a. Trên trán;

b. Vai bên trái;

c. Vai bên phải;

d. Ngang ngực;

e. Yết hầu.

- Trong lúc tay ấn thì miệng đọc “Hồng, hồng, hồng, hồng, hồng” cho liên tiếp đủ 5 chỗ rồi mới xả ấn. Nhớ làm phép này trừ đuổi tà ma.

12. Xong đứng dậy lễ 3 lễ vừa lễ vừa xướng:

Nam mô Thất câu chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề vương Bồ Tát.

13. Lễ xong, quỳ xuống đọc 2 bài phát nguyện rằng:

Văn phát nguyện I

Con nay trì chú Chuẩn Đề

Lạy xin Phật Mẫu phù trì xót thương

Tiêu trừ bệnh tật tai ương,

Toàn gia, Toàn quốc ninh khang thịnh cường

Thiện tăng trí tuệ mở mang

Phúc sinh tội diệt, nghiệp oan đoạn trừ

Mai sau chứng quả bồ đề

Tràng phan nguyện Phật tiếp về Tây phương

Thân vàng ngọc tướng đoan nghiêm

Hào quang chiếu sáng hương thiên ngạt ngào

Nguyện xin độ khắp muôn loài

Đồng đăng giác ngạn đời đời tiêu dao.

Văn phát nguyện II

Cúi xin Tam bảo chứng minh, Oai thần chiếu giám ủng hộ cho con và trong gia đình, cùng người tộc thuộc khắp cả chúng sinh, lúc hiện sống này, khỏi tai khỏi bệnh, ma tặc mất tích, duyên phúc đủ đều. Nhà nhà được chữ đoàn viên, xứ xứ an phần lợi lạc. Đời này kiếp hác, gieo giống bồ đề, cùng thoát sông mê, đều về cõi Phật.

14. Đọc bài phát nguyện xong, kế niệm:

Nam mô Tây phương Cực lạc Thế giới, tam thập lục vạn ức, nhất thập nhất vạn, cửu thiên ngũ bách, đồng danh đồng hiệu, đại từ đại bi, A di đà Phật (3 lần) (mỗi lần niệm, lễ 1 lễ)

Nam mô Thất câu chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề vương Bồ Tát (3 lần) (mỗi lần niệm, lễ 1 lễ).

15. Lễ Tự quy là lễ tất:

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm;

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải;

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.

Con quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, thấu hiểu đạo lớn, mở lòng từ bi.

Con quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu nghĩa kinh, trí tuệ như biển.

Con quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, hợp đạo đồng tình, không gì trở ngại.

Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo