Liên hệ với chúng tôi

Sống

Chiến dịch Chiêm Thành - kỳ tích quân sự Việt Nam: Không mất 1 mũi tên mà vẫn bình định được đối phương

Sự thành công của chiến dịch bình định Chiêm Thành (năm Nhâm Tý - 1312) chủ yếu đến từ mưu kế của mưu sĩ nổi tiếng Đoàn Nhữ Hài.

Chiến dịch Chiêm Thành - kỳ tích quân sự Việt Nam: Không mất 1 mũi tên mà vẫn bình định được đối phương

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Chiến dịch Chiêm Thành - kỳ tích quân sự Việt Nam: Không mất 1 mũi tên mà vẫn bình định được đối phương
Photo: internet

Những ngày dày công gây dựng hòa bình Việt - Chiêm khép lại

Thời kỳ trị vì của vua Jaya Sinhavarman III (Chế Mân) là giai đoạn vàng son trong lịch sử Chiêm Thành và cũng là quãng thời gian mà Đại Việt và Chiêm Thành có quan hệ rất thân thiết. Từ đó về sau, Việt - Chiêm hiếm có giai đoạn nào thân thiết với nhau như thế.

Vào năm 1307, vua Jaya Sinhavarman III khi mới kết hôn với công chúa Huyền Trân. Đến năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông của nước Đại Việt mất ở Yên Tử. Thời kỳ của những nhà cai trị Việt - Chiêm cùng sát cánh chống quân Nguyên Mông, những ngày dày công gây dựng hòa bình chính thức khép lại. 

Khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông còn tại thế, đường lối ngoại giao hòa bình của ngài đã góp phần áp chế tư tưởng hiếu chiến trong triều đình Đại Việt. Song trong hàng ngũ quan lại nước Việt và kể cả vua Trần Anh Tông vẫn luôn mong muốn Đại Việt có được vị thế bề trên và tìm cách áp đặt tư tưởng lên nước Chiêm Thành. Đại biểu cho phái "diều hâu" trong triều đình Đại Việt trước tiên phải kể đến là Tri khu mật viện sự Đoàn Nhữ Hài.

Ông này là người chủ trương có thái độ cứng rắn với Chiêm Thành. Vào năm 1303, Đoàn Nhữ Hài được giao nhiệm vụ đi sứ nước Chiêm, trong chuyến đi này ông đã cố gắng khẳng định vị thế nước bảo hộ của Đại Việt trên phương diện ngoại giao. 

muu-si-tran-nhu-hai-va-chien-dich-lam-nen-ky-tich-quan-su-viet-nam-5
Tranh vẽ quân Trần điều binh

Đoàn Nhữ Hài đã làm được hai việc mà các sử thần sau này ca ngợi. Thứ nhất là ông không lạy vua Chiêm mà mở chiếu thư ra để lạy, thứ hai là treo bảng cấm buôn bán ở bến cảng Tỳ Ni (ở khu vực thành phố Quy Nhơn hiện nay).

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép lại về chuyến đi sứ này như sau :

“Trước đây, sứ nước ta tới Chiêm Thành, đều lạy chúa Chiêm trước, rồi sau mới mở chiếu thư. Đến khi Nhữ Hài tới, liền bưng ngay chiếu thư để lên trên án và nói với chúa Chiêm: “Từ khi sứ thiên triều mang chiếu thư của thiên tử sang, xa cách ánh sáng lâu ngày, nay mở chiếu thư, thực như trông thấy mặt thiên tử, tôi phải lạy chiếu thư đã, rồi mới tuyên đọc sau”.

Rồi lập tức hướng vào tờ chiếu mà lạy. Lúc ấy, chúa Chiêm đứng bên cạnh, lạy thế không khỏi có chút chưa ổn, nhưng lấy cớ mà lạy chiếu thư thì về lý là thuận, mà sứ tiết cũng không phải khuất. Hôm sau, Nhữ Hài treo bảng cấm buôn bán ở Tỳ Ni (bến cảng của Chiêm Thành, nơi tụ tập các thuyền buôn), tuyên đọc xong, treo bảng lên, lại gọi viên coi cảng đến bảo: “Chỗ này người buôn bán tụ họp phức tạp, lại là bến tàu xung yếu, khó giữ gìn. Sứ thần về rồi, cất ngay bảng đi, đừng để mất”.

Ý ông cho rằng Chiêm Thành tuy đã thần phục, nhưng thực ra chưa chịu nội phụ, bảng cấm rốt cục cũng bị bỏ đi, cho nên nói trước như vậy, không để tự họ làm như thế. Sau này, đi sứ Chiêm Thành, không lạy chúa Chiêm là bắt đầu từ Nhữ Hài".

Sau chuyến đi sứ này, vua Trần Anh Tông càng tin dùng Đoàn Nhữ Hài hơn. Ông được thăng chức Tri khu mật viện sự, chức vụ rất quan trọng chỉ giao cho những người trong tôn thất. ông cũng được giao đi phủ dụ nhân dân hai châu Ô, Lý và đổi tên đất này thành các châu Thuận, Hóa mới được nhập vào Đại Việt từ món quà sính lễ của vua Chiêm Chê Mân để cưới Huyền Trân công chúa. 

Đoàn Nhữ Hài - "đạo diễn" của chiến dịch quân sự toàn thắng

Với sự am hiểu Chiêm Thành, Đoàn Nhữ Hài đã lập ra kế hoạch hoàn hảo cho cuộc chiến. Nhân sự cam kết của chủ trại Câu Chiêm sẽ làm nội ứng cho quân Đại Việt, vua Trần Anh Tông thân chinh xuất quân. 

Khi Đại Việt tiến quân đến phủ Lâm Bình (vùng Quảng Bình hiện nay), chia quân làm 3 đường: Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn (em trai vua Trần Anh Tông) theo đường núi, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư theo đường biển, còn vua dẫn 6 quân theo đường bộ; thủy bộ cùng tiến. Trong khi đó, Đoàn Nhữ Hài được phong làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước.

Vua Trần Anh Tông đến Câu Chiêm thì cho quân dừng lại. Đoàn Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ ý yêu cầu vua của Đại Việt là đòi quốc chủ nước Chiêm Thành ra hàng. Trại chủ báo với vua Chiêm Chế Chí. Dưới sự tác động của viên trại chủ, Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng.

Lúc ấy, một sự kiện bất ngờ xảy ra khi Nhân Huệ Vương cho quân theo thuyền vua Chiêm. Nhữ Hài lập tức cho người chạy thư hỏa tốc về tâu vua rằng: "Khánh Dư định cướp công vua". Vua giận lắm, sai bắt giám quân của Nhân Huệ Vương là Nguyễn Ngỗi đem chặt chân. Nhân Huệ Vương lúc đó mới hoảng sợ, đến ngự doanh tạ tội và nói rằng: "Thần sợ nó đến giữa biển lại đổi bụng khác, nên mới chặn đằng sau thôi".

muu-si-tran-nhu-hai-va-chien-dich-lam-nen-ky-tich-quan-su-viet-nam
Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại câu chuyện Đoàn Nhữ Hài viết bài biểu để cứu giúp Trần Anh Tông thoát cơn giận giữ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông (nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)

Khi vua nguôi giận liền sai quân đi tuần các bộ lạc. Lúc đó, quân đội Chiêm Thành còn mạnh, lại chưa nắm được lệnh đầu hàng của vua Chiêm nên tụ tập định đánh vào ngự doanh. Tiếng voi của quân Chiêm lúc đó đã gần ngoài trại, quân sĩ nhà Trần có vẻ lo sợ. 

Những chỉ vài hôm sau, quân của Huệ Vũ Vương tự tìm đường mà tới, uy lực quân Đại Việt tặng lên gấp bội, khiến người CHiêm chạy tan hết cả. Sử sách sau này đánh giá: Trận này không mất một mũi tên mà Chiêm Thành bị dẹp, đó là công sức của Nhữ Hài.

Chỉ cần khéo léo sử dụng các biện pháp tình báo và ngoại giao, Đoàn Như Hài đã giúp quân đội của nhà Trần giành thắng lợi hoàn hảo. Vậy nên trong lời tự cuốn sách "Vạn kiếp tông bí truyền thư" của Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đã viết: "Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh", câu này đem áp dụng vào kế sách Đoàn Nhữ Hài, có lẽ không sai.

Tháng 5 năm ấy, vua Trần Anh Tông đem chúa Chiêm Thành Chế Chí đem về Thăng Long, phong cho em của ông ta là Chế Đà A Bà Niêm làm Á hầu trấn giữ đất ấy.

Quảng cáo

Đoàn Nhữ Hài - danh tướng có xuất thân đặc biệt, hy sinh ở trận tiền

Đoàn Nhữ Hài (1280-1335), biểu tự Thuấn Thần. Ông là người làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương), là một danh thần đời nhà Trần. Ông làm quan trải ba đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), Trần Minh Tông (1314-1329) và Trần Hiến Tông (1329-1341), là người có năng lực hoạt động về ngoại giao và nội trị, lần lượt nắm giữ các chức vụ Ngự sử trung tán, Tham tri chính sự, Hành khiển, Thiên tử chiêu dụ sứ, Kinh lược Nghệ An. Ông hy sinh trong cuộc chinh phạt Ai Lao năm 1335.

Sử sách chép rằng, ông là trường hợp gia nhập quan trường độc đáo nhất lịch sử Việt Nam. Ông chưa tham gia thi cử, không phải con nhà quan, chỉ là một học trò áo vải bình thường bỗng xuất hiện đúng lúc vua cần rồi được cất nhắc. 

Chuyện xảy ra vào tháng 5 năm Kỷ Hợi (1299), sau khi vua Trần Anh Tông lên ngôi được khoảng sáu năm. Một hôm, Thượng hoàng Trần Nhân Tông, lúc này đã dời tới sống ở phủ Thiên Trường, đột xuất về Thăng Long để kiểm tra công việc của vua Anh Tông. Còn nhà vua thì đang cùng bề tôi uống rượu xương bồ tới say khướt.

Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, Thượng hoàng đi khắp các cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (khoảng từ bảy giờ đến 11 giờ sáng) mà vẫn không thấy vua Trần Anh Tông. Khi được biết vì uống rượu đêm qua quá say mà đến giờ đó vua vẫn chưa dậy được, Thượng hoàng nổi trận lôi đình, "lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội".

muu-si-tran-nhu-hai-va-chien-dich-lam-nen-ky-tich-quan-su-viet-nam-0
Bàn thờ Đoàn Nhữ Hài tại Huyền Trân Công Chúa điện, Huế

Đến giờ Mùi (từ một đến ba giờ chiều), Anh Tông mới tỉnh dậy. Vua hay chuyện rất hoảng hốt. Nhìn quẩn nhìn quanh không thấy những bề tôi thân tín đâu cả, vua bèn ra khỏi cung, nhằm hướng sông Nhị cho đỡ bức bối, tới cửa chùa Tư Phúc, vua gặp Đoàn Nhữ Hài ngồi đọc sách và nhờ ông soạn bài biểu tạ tội với Thượng hoàng.

Đoàn Nhữ Hài đứng trước mặt vua, trong chốc lát đã soạn xong tờ biểu, lời lẽ đầy ân hận và cảm động. Vua bèn lấy thuyền nhẹ nhằm hướng Thiên Trường đi ngay, cho Đoàn Nhữ Hài theo. Tới rạng sáng hôm sau thì tới. Vua sai Đoàn Nhữ Hài vào phủ dâng biểu cho Thượng hoàng. Thượng hoàng giận, giả bộ không thèm để ý đến, mặc Đoàn Nhữ Hài cứ quỳ trước cửa điện. Chiều hôm ấy thời tiết xấu, trời bỗng nhiên nổi mưa to gió lớn. Đoàn Nhữ Hài vẫn quỳ nguyên tại chỗ không nhúc nhích. Động lòng, Thượng hoàng sai nội nhân ra cầm tờ biểu tạ tội vào. Đọc xong, Thượng hoàng khen tờ biểu viết khéo, quở trách Anh Tông nghiêm khắc rồi tha cho về.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

"Sáng sớm hôm sau, vua tới phủ Thiên Trường, dâng biểu tạ tội. Thượng hoàng thấy Nhữ Hài, liền hỏi là người nào. Nội nhân trả lời là người dâng biểu của Quan gia. Thượng hoàng không nói gì.

Buổi chiều, mưa gió ập đến. Nhữ Hài vẫn cứ quỳ không nhúc nhích. Thượng hoàng hỏi: "Người ở trong sân có còn đấy không?". Nội nhân đáp rằng còn. Thượng hoàng bèn sai nhận biểu để xem, thấy lời lẽ khẩn thiết cho gọi vua vào bảo:

"Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này?".

Vua rập đầu tạ tội. Thượng hoàng hỏi: "Ai soạn biểu cho ngươi".

Vua thưa: "Đó là thư sinh Đoàn Nhữ Hài".

Thượng hoàng bèn gọi Nhữ Hài vào và bảo: "Bài biểu ngươi soạn, rất hợp lòng trẫm".

Rồi xuống chiếu cho Quan gia lại vẫn làm vua; các quan về triều như cũ".

Khi về kinh thành, vua Trần Anh Tông phong Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tán, chức quan đứng hàng thứ 2 ở Ngự sử Đài, có nhiệm vụ can gián, đàn hặc nhà vua. Khi ấy ông chưa tới 20 tuổi. Việc một thư sinh trẻ tuổi chưa hề đỗ đạt gì, lại không phải hoàng thân quốc thích, mà được đưa lên một cương vị trọng yếu như vậy đã không khỏi khiến thiên hạ đàm tiếu, nhưng Đoàn Nhữ Hài đã cố gắng hoàn thành trọng trách của mình.

Việc một thư sinh trẻ chưa đỗ đạt gì, lại không thuộc dòng dõi quý tộc mà được đưa lên cương vị trọng yếu trong triều đã khiến thiên hạ đàm tiếu, thậm chí người ta còn đặt câu thơ chế giễu rằng: "Ngự sử tụng truyền câu cổ ngữ, Đoàn trung tán miệng còn hơi sữa".

Nhưng sau này, Đoàn Nhữ Hài đã thể hiện năng lực của mình, dần được thăng đến chức vụ rất cao như Tri khu mật viện sự, Hành khiển, làm quan trải suốt 3 triều vua Trần là Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông.

Mặc dù là quan văn nhưng cuối đời, Đoàn Nhữ Hài lại bỏ mạng nơi sa trường. Đó là khi ông được Thượng hoàng Trần Minh Tông giao chức đốc chiến trong chiến dịch chinh phạt Ai Lao năm 1335.

Trận này, do mây mù che tối, quân Ai Lao phục sẵn voi ngựa, hai mặt giáp công. Quân của Đoàn Nhữ Hài bị đánh thua tan tác, bản thân ông sa xuống nước chết đuối. Sau thất bại đó của Đoàn Nhữ Hài, Thượng hoàng Minh Tông cho rằng ông đã thất trận chỉ vì muốn lập kỳ công, than rằng: "Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!".

(Theo Wiki, Đại Việt sử ký toàn thư)

Xem thêm: Hoàng tử Lý Long Tường: Từ cuộc vượt biển tị nạn đến danh tướng giúp Hàn Quốc phá kế "con ngựa thành Troy"

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo