Liên hệ với chúng tôi

Đạo

Như lý tác ý là gì?

Như lý tác ý hay còn gọi là lý khởi tư duy là thuật ngữ nói về cách nhìn sự vật, hiện tượng một cách đúng đắn theo quan điểm đạo Phật.

Như lý tác ý là gì?

Đăng:

Chi Nguyễn
Như lý tác ý là gì?
Photo: internet

Như lý tác ý là gì?

Theo tài liệu thảo luật về Phật học, Tác ý là tạo nên, khởi sinh đối tượng nơi tâm, như lý tác ý là tác ý đúng cách, tác ý đường. Như lý tác ý (Yoniso manasikàra) hay còn gọi là lý khởi tư duy, là thuật ngữ Phật học nói về cách nhìn sự vật, hiện tượng một cách đúng đắn dựa trên quan điểm đạo Phật. Đây là trạng thái của tâm thức, khởi lên do duyên sự tiếp xúc giữa căn và trần (giác quan và đối tượng tương ứng), từ đó hiện hành dòng tư duy hoặc tư tưởng. Đó cũng là ý nghiệp đúng đắn, giúp tăng nghiệp tốt, tích lũy phước báo, giảm trừ nghiệp xấu, tiêu tan nghiệp ác.

nhu-ly-tac-y-la-gi
Như lý tác ý là lý khởi tư duy, là thuật ngữ Phật học nói về cách nhìn sự vật, hiện tượng một cách đúng đắn dựa trên quan điểm đạo Phật.

Theo đạo Phật, do sự va chạm giữa các giác quan và đối tượng tương ứng mà ý thức khởi sanh, hoạt động gọi là tác ý hoặc tâm sinh. Tác ý hiện khởi theo 2 khuynh hướng là thiện hoặc bất thiện, tùy vào thói quen, thập khí hay nghiệp lực riêng của mỗi người.

Một người có tu tập, hành sâu về giáo lý nhà Phật hoặc tâm thức không còn nặng tham sân si thì ý thức sẽ sinh khởi theo hướng chính kiến, tác ý theo cách khiến thiện pháp sinh khởi, tăng trưởng. Đây chính là như lý tác ý (Yoniso manasikàra), hay tâm đặt đúng hướng, có nghĩa là tác ý hay tâm sinh đúng pháp, đúng lời Phật dạy, có thể đoạn tiệt khổ đau, phiền não. 

Trái lại, người chưa có nhân duyên tu tập, tìm hiểu giáo pháp đạo Phật hoặc còn nặng tham sân si thì ý thức sanh khởi theo chiều hướng tà kiến hoặc tác ý khiến bất thiện pháp phát sinh và tăng trưởng. Kinh Phật gọi là phi như lý tác ý (Ayoniso manasikàra), tức tâm đặt sai hướng.

Bản chất của như lý tác ý

Có 3 loại tác ý là Tác ý dẫn tới cảnh, Tác ý dẫn tới Lộ trình tâm, Tác ý dẫn tới Tác hành tâm.

nhu-ly-tac-y-la-gi
Có 3 loại tác ý là Tác ý dẫn tới cảnh, Tác ý dẫn tới Lộ trình tâm, Tác ý dẫn tới Tác hành tâm.

Tác ý dẫn tới cảnh

Tác ý này có nhiệm vụ là phát sinh đối tượng nơi tâm, chính là Tác ý tâm sở (manasikāra cetasika). Tác ý này nằm trong 52 loại tâm sở.

Tác ý dẫn tới Lộ trình tâm

Tác ý này làm phát sinh lộ trình nên được coi là Tác ý dẫn tới lộ trình tâm (Vīthiṃ paṭipādayatīti vīthipaṭipādakamanasikāra). Đây chính là Ngũ môn hướng tâm, làm phát sinh Nhãn Thức Tâm, Tiếp Nhận Tâm,... cũng như toàn bộ tiến trình tâm.

Quảng cáo

Tác ý dẫn tới Tác Hành tâm

Tác ý ở đây là Ý môn hướng tâm (Manodvāravajjanacitta), xác định tâm. Tác ý này nếu thuận theo Pháp thì tạo ra thiện nghiệp, còn đi ngược với Pháp thì tạo ra bất thiện nghiệp. Sở hữu Như lý tác ý, phàm phu hoặc bậc Thánh hữu học sẽ Tác Hành tâm Thiện dục giới, tương ứng với Tuệ; còn bậc Thánh Arahat sẽ khởi Tâm hành dục giới tương ứng với Tuệ. 

Như lý tác ý là khởi nghĩ về sự vật, hiện tượng đúng như bản chất của chúng, nghĩa là duyên sinh, là vô thường, khổ, vô ngã. Mọi chuyện trên đời đều do duyên mà có, luôn biến đổi, chuyển biến. Khởi nghĩ như vậy là như lý tác ý, là khởi tâm đúng đắn theo quan điểm nhà Phật, dẫn tới sự vận hành dòng tư tưởng đúng đắn, hướng thiện, dòng tư duy liên hệ tới ly dục, vô sân và bất hại, chính là ly dục tư duy, vô sân tư duy và bất hại tư duy.

Ly dục tư duy là chuỗi tư tưởng, tư duy trong sáng, không bị ám ảnh, kích động hay chi phối bởi tham dục, ham muốn. Vô sân tư duy là dòng tư tưởng không bị ám ảnh, kích động hay chi phối bởi bất mãn, buồn phiền. Bất hại tư duy là dòng tư tưởng trong sáng, thánh thiện, không bị tà kiến mê muội, không làm hại ai và cũng không hại mình. Nhờ Như lý tác ý mà suy tư, tu tập đúng đắn về các pháp, nhìn pháp đúng như bản chất của chúng, tức là duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã.

Thực tập như lý tác ý

Thông thường, con người có 2 phản ứng tâm thức do duyên xúc chạm giữa các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và những đối tượng tương ứng (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Theo đạo Phật đó là phản ứng thuận ứng và nghịch ứng, phát sinh do si mê, là nhân tố trói buộc dẫn tới khổ đau. Phản ứng thứ nhất liên quan tới tham, tâm tham dục; Phản ứng thứ hai liên quan tới sân và tâm sân hận.

nhu-ly-tac-y-la-gi
Người tu tập, hành trì theo lời Phật dạy, quen với cách nhìn nhận mọi việc như đúng bản chất của nó, là nhận diện các pháp vô thường, khổ, vô ngã.

Người tu tập, hành trì theo lời Phật dạy, đã quen với cách nhìn nhận sự vật và hiện tượng như đúng bản chất của nó, là nhận diện các pháp vô thường, khổ, vô ngã sẽ thì tâm tư không dao động, không sinh khởi thuận ứng hay nghịch ứng. Người ấy sẽ không tham ái với sắc khả ái, không khởi sinh bực bội với sắc không khả ái, không có suy nghĩ hay hành động hại đến mình hay hại đến người. Kinh Phật gọi ấy là sống không thiên vị, không chấp chước, không tham ái, đi đến tự do, giải thoát:

"Này Thiên chủ, nếu Tỳ-kheo được nghe như sau: ‘Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp’, vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tính vô thường, sống quán tính ly tham, sống quán tính đoạn diệt, sống quán tính xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tính vô thường, sống quán tính ly tham, sống quán tính đoạn diệt, sống quán tính xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết bàn. Vị ấy tuệ tri: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa..."

Kinh Sabbàsava Trung Bộ dạy rằng phải thường xuyên thân cận, gần gũi với bậc chân nhân, bậc Thánh để được các ngài hướng dẫn tu tập Phật pháp thuần thục. Phải thường xuyên học tập, làm theo những lời khuyên dại của bậc Giác ngộ, nhờ đó các vị Thánh đệ tử biết rõ những gì cần tác ý và không cần tác ý. Vị ấy sẽ không để tâm thức khởi duyên vọng tưởng tự ngã hoặc quá khứ, vị lai hay hiện tại, khong để mình rơi vào ngã chấp.

Vị ấy sẽ tập trung tác ý về hiện tại khổ đau của mọi sự, tìm hiểu nguyên nhân khổ đau, đoạn diệt và con đường đi đến đoạn diệt khổ đau. Vị ấy sẽ hành trì đúng pháp, khéo tác ý về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đi đến khổ diệt, diệt trừ những trói buộc vì chấp ngã, nghi ngờ và chấp trước mà sinh ra.

Như lý pháp ý chính là pháp môn tu tập, liên quan tới sự phát triển tâm thức. Pháp môn ấy sẽ khiến tâm không còn rơi vòng vọng tưởng, không còn tà kiến, chỉ tập trung vào thực tại khổ đau của ngũ uẩn mà tu tập, từng bước ra khỏi phiền não. Như lý tác ý sẽ khiến tâm thức sinh khởi, vận hành đúng đắn, khởi nghĩ và nhận rõ pháp là duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã mà rời bỏ tham ái, chấp thủ.

Thường xuyên thực tập như lý tác ý sẽ giúp tâm thức thanh tịnh, không còn tán loạn, kích động, trở nên sáng suốt, nhạy bén, thấy rõ sự thật, dẫn tâm tới giải thoát theo trình tự mô tả trong kinh văn tạng Pàli là "nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn".

Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo