Liên hệ với chúng tôi
Quảng cáo

Đạo

Ý nghĩa của Kinh Phổ Môn và cách tụng Kinh Phổ Môn chuẩn nhất

Kinh Phổ Môn thường được tụng vào các dịp cầu an, cầu tai qua nạn khỏi, cầu gia đạo bình an... Vậy ý nghĩa, cách tụng Kinh Phổ Môn như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Ý nghĩa của Kinh Phổ Môn và cách tụng Kinh Phổ Môn chuẩn nhất

Xuất bản:

LB
Ý nghĩa của Kinh Phổ Môn và cách tụng Kinh Phổ Môn chuẩn nhất
Photo: internet

Kinh Phổ Môn là gì?

Tên gọi thông thường của bài kinh này là Phẩm Phổ Môn, Kinh Phổ Môn hay Kinh Quán Thế Âm và gọi đủ là Quan Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm. Đây là bài kinh nói về hạnh nguyện độ sanh của Bồ tát Quan Thế Âm, và thông qua đó, giới thiệu cách "quán chiếu" cuộc đời để đạt được giác ngộ và giải thoát như phương pháp tu tập phổ biến và có hiệu quả trong cõi Ta bà.

Nguyên tác của bản kinh được viết bằng tiếng Sanskrit. Có ba bản dịch chữ Hán:

  • Bản của ngài Trúc Pháp Hộ dịch mang tựa đề “Quan Thế Âm Bồ tát” là phẩm thứ 23 trong Chánh Pháp Hoa Kinh,
  • Bản của ngài Cưu-ma-la-thập dịch mang tựa đề “Quan Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm”, là phẩm thứ 25 trong kinh Hoa Sen Chánh Pháp (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh).
  • Bản của hai ngài Xà-na-quật-đa và Đạt-ma-cấp- đa dịch mang cùng tựa đề với bản Cưu-ma-la-thập, là phẩm thứ 24 trong Thiêm Phẩm Pháp Hoa Kinh.

Trong ba bản Hán dịch, chỉ có bản thứ ba có đủ hai phần văn xuôi và thi hóa phần văn xuôi. Kể từ khi bản dịch thứ ba ra đời, các ấn bản mới của ngài Cưu-ma-la-thập có bổ túc phần thi kệ của bản dịch thứ ba, như nội dung mà chúng ta sử dụng hiện nay. Bản dịch tiếng Việt hiện nay là bản dịch từ bản chữ Hán của ngài Cưu-ma-la-thập và giữ nguyên phần thi hoá văn xuôi. Bởi vì có những điều được trình bày trong phần thi hoá văn xuôi không có trong phần văn và ngược lại.

y-nghia-cua-kinh-pho-mon-va-cach-tung-kinh-pho-mon-chuan-nhat-1

Nội dung chính của Kinh bao gồm ba phần: Thần lực trì danh Quan Âm; Cứu thế độ sinh qua 33 ứng thân; Phương pháp ngũ âm và ngũ quán.

Thần lực độ sinh nhiệm mầu của Bồ Tát Quan Thế Âm được giới thiệu là sự tương giao nhân quả giữa chúng sinh và Bồ-tát. Đức Quan Thế Âm sở dĩ được tôn xưng với danh hiệu này là vì Ngài là vị Bồ-tát luôn luôn ban niềm vui vô úy thí cho tất cả chúng sinh đang chịu nhiều đau khổ trong đời, từ thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, cho đến nạn vua quan và giặc cướp, và thậm chí ngài còn là điểm tựa tinh thần cho quá trình con người phàm phu tu học nuôi dưỡng ngọn đuốc trí tuệ, trở thành bậc Thánh như Ngài.

Ý nghĩa của Kinh Phổ Môn

Kinh Phổ Môn mang ý nghĩa ẩn dụ rất cao, khi đọc Kinh không nên chấp chữ quên ý. Không phải khi tụng Kinh thì cầu gì được nấy, Bồ-tát không phải là một vị thần linh ban phúc, cứu nguy, mục tiêu của Kinh không phải là cầu nguyện để van xin. Phương pháp tu tập quán chiếu cuộc đời mới chính là cốt lõi của Kinh. Nhờ quán chiếu cuộc đời theo phương thức duyên khởi và vô ngã, người tu học trì tụng, tự độ thoát chính mình khỏi các đau khổ.

Kinh Phổ Môn còn nói lên tình thương bao la của một vị bồ-tát qua phương pháp độ sinh với 33 ứng thân khác nhau, phù hợp với căn cơ và đối tượng của người tu tập. Hình ảnh 33 ứng thân gợi cho chúng ta tinh thần nhập thế đa dạng của vị Bồ-tát vì sự nghiệp duy nhất là đem lại an lạc và hạnh phúc cho chúng sinh. Muốn độ sinh có hiệu quả, người hành đạo phải hiểu rõ tâm lý và hành vi của đối tượng.

y-nghia-cua-kinh-pho-mon-va-cach-tung-kinh-pho-mon-chuan-nhat-2

Ở đây không có một vị Bồ-tát Quán Thế Âm thật để cứu độ chúng ta theo phương thức cầu gì được nấy. Bởi vì điều này trái với quy luật nhân quả và nghiệp báo mà Đức Phật đã giảng dạy.

Kinh Phổ Môn chỉ ra năm loại âm thanh hiện hữu trong cuộc đời, đó là, tiếng nhiệm mầu (Diệu Âm), tiếng quán chiếu cuộc đời (Quán thế Âm), tiếng thanh tịnh (Phạm Âm), tiếng sóng vỗ (Hải triều Âm) và tiếng siêu việt thế gian (Siêu việt thế gian Âm).

Đối lại năm âm thanh này là năm pháp quán chiếu hay thiền định: quán chân thật (Chân quán), quán thanh tịnh (Thanh tịnh quán), quán trí tuệ rộng lớn (Quảng đại trí tuệ quán), quán cứu khổ (Bi quán) và quán ban tình thương (Từ quán). Chính nhờ nương vào năm pháp quán chiếu này, người tu học tự giải thoát chính mình ra khỏi mọi khổ ách của cuộc đời.

Khi tu tập 5 pháp quán đó mỗi chúng ta là một Bồ-tát Quán Thế Âm cứu chính chúng ta và tha nhân ra khỏi nhà lửa của khổ đau và bất hạnh.

Cách tụng Kinh Phổ Môn chuẩn nhất

Dưới đây là nghi thức tụng Kinh Phổ Môn hay Kinh Cầu An chuẩn nhất các Phật tử có thể tham khảo.

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Án, lam tóa ha (3 lần)

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

(Tất cả đều quỳ. Vị chủ lễ cầm ba cây hương đưa ngang trán niệm bài CÚNG HƯƠNG)

CÚNG HƯƠNG

Nguyện thử diệu hương vân,

Biến mãn thập phương giới,

Cúng dường nhứt thiết Phật,

Tôn pháp chư Bồ tát,

Vô biên Thanh Văn chúng,

Cập nhứt thiết Thánh Hiền,

Duyên khởi quang minh đài,

Xứng tánh tác Phật sự,

Phổ huân chư chúng sanh, Giai phát Bồ đề tâm,

Viễn ly chư vọng nghiệp,

Viên thành Vô thượng đạo.

KỲ NGUYỆN

Tư thời đệ-tử chúng đẳng phúng tụng kinh chú, xưng tán hồng-danh, tập thử công-đức, nguyện thập-phương thường-trú Tam-bảo, Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Ðại-bi hội thượng Phật Bồ-tát, từ-bi gia-hộ Phật-tử..... phápdanh..... phiền-não đoạn-diệt, nghiệpchướng tiêu trừ, thường hoạch kiết tường, vĩnh ly khổ ách. Phổ nguyện âm siêu dương thới, hải yến hà thanh, pháp-giới chúng-sanh, tề thành Phật đạo. (Đứng dậy cắm hương lên lư rồi vị chủ lễ chắp tay đứng thẳng và niệm)

y-nghia-cua-kinh-pho-mon-va-cach-tung-kinh-pho-mon-chuan-nhat-3

TÁN PHẬT 

Pháp vương Vô thượng tôn, 

Tam giới vô luân thất, 

Thiên nhơn chi Đạo sư, 

Tứ sanh chi Từ phụ, 

Ư nhứt niệm quy y, 

Năng diệt tam kỳ nghiệp, 

Xưng dương nhược tán thán, 

Ức kiếp mạc năng tận. 

(1 lạy và 1 tiếng chuông) 

QUÁN TƯỞNG 

Năng lễ, sở lễ tánh không tịch, 

Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì, 

Ngã thử đạo tràng như Ðế-châu, 

Thập phương chư Phật ảnh hiện trung, 

Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, 

Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ.

(1 lạy và 1 tiếng chuông)

ĐẢNH LỄ  

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương chư Phật, Tôn pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. (1 lạy và 1 tiếng chuông)  

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo chủ, Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy và 1 tiếng chuông) 

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật, Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ tát. (1 lạy và 1 tiếng chuông)  

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đại từ đại bi Phật Mẫu Chuẩn Đề. Nam mô đại từ đại bi Quán Âm Diệu Thiện Bồ Tát. Nam mô đại từ đại bi Quán Âm Nam Hải Bồ Tát. Nam mô đại từ đại bi Diêu Trì Phổ Môn Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát. (1 lạy và 1 tiếng chuông)

CỬ TÁN

Chiên đàn hải ngạn, 

Lư nhiệt danh hương, 

Da-du tử mẫu lưỡng vô ương, 

Hoả nội đắc thanh lương, 

Chí tâm kim tương, 

Nhứt chú biến thập phương. 

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma ha tát. (3 lần)

CHÚ ĐẠI BI

Nam mô Đại bi Hội thượng Phật Bồ Tát (3 lần, 1 tiếng chuông) 

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni. Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa. 

Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. 

Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồđề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. 

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần) (1 lạy và 1 tiếng chuông) 

KHAI KINH KỆ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, 

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, 

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì, 

Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa. 

(1 lạy và tiếng chuông)

y-nghia-cua-kinh-pho-mon-va-cach-tung-kinh-pho-mon-chuan-nhat-4

PHỔ MÔN PHẨM  

NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần) 

DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN PHẨM 

Nhĩ thời, Vô-tận-ý Bồ-tát tức tùng tọa khởi, thiên đản hữu kiên, hiệp chưởng hướng Phật, nhi tác thị ngôn: Thế-Tôn, Quán-thế-âm Bồ-tát dĩ hà nhơn duyên danh Quán-thế-âm? 

Phật cáo Vô-tận-ý Bồ-tát: Thiện nam tử, nhược hữu vô- lượng bá thiên vạn ức chúng sanh, thọ chư khổ não, văn thị Quán-thế-âm Bồ-tát nhứt tâm xưng danh, Quán-thế-âm Bồ-tát, tức thời quán kỳ âm thinh giai đắc giải thoát. 

Nhược hữu trì thị Quán-thế-âm Bồ tát danh giả, thiết nhập đại hỏa, hỏa bất năng thiêu; do thị Bồ-tát, oai thần lực cố. Nhược vị đại thủy sở phiêu, xưng kỳ danh hiệu tức đắc thiển xứ. 

Nhược hữu bá thiên vạn ức chúng sanh, vị cầu: kim ngân, lưu-ly, xa-cừ, mã-não, san-hô, hổ-phách, trân-châu, đẳng bảo, nhập ư đại hải; giả sử hắc phong xuy kỳ thuyền phưởng, phiêu đọa La-sát quỷ quốc, kỳ trung nhược hữu nãi chí nhất nhơn, xưng Quán-thế âm Bồ-tát danh giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc giải-thoát La-sát chi nạn. Dĩ thị nhân duyên, danh Quán-thế-âm. 

Nhược phục hữu nhơn, lâm đương bị hại, xưng Quán-thế-âm Bồ-tát danh giả, bỉ sở chấp đao trượng, tầm đoạn đoạn hoại, nhi đắc giải-thoát. 

Nhược tam-thiên đại-thiên quốc độ, mãn trung Da-xoa, La-sát, dục lai não nhơn, văn kỳ xưng Quán-thế-âm Bồ-tát danh giả, thị chư ác quỷ, thượng bất năng dĩ ác nhãn thị chi, huống phục gia hại. Thiết phục hữu nhơn, nhược hữu tội, nhược vô tội, nữu giới già tỏa, kiểm hệ kỳ thân, xưng Quán-thế-âm Bồ-tát danh giả, giai tất đoạn hoại tức đắc giải thoát. 

Nhược tam-thiên đại-thiên quốc độ, mãn trung oán tặc, hữu nhứt thương chủ, tương chư thương nhơn, tê trì trọng bảo kinh quá hiểm lộ, kỳ trung nhứt nhơn, tác thị xướng ngôn: "Chư thiện-nam tử, vật đắc khủng bố, nhữ đẳng ưng đương nhứt tâm xưng Quán thế-âm Bồ-tát danh hiệu; thị Bồ-tát năng dĩ vô-úy thí ư chúng-sanh; nhữ đẳng nhược xưng danh giả, ư thử oán tặc, đương đắc giải-thoát". Chúng thương nhơn văn, câu phát thinh ngôn: "Nam-mô Quán-thế-âm Bồ-tát" xưng kỳ danh cố, tức đắc giải-thoát. 

Vô-tận-ý! Quán-thế-âm Bồ-tát maha-tát, oai thần chi lực, nguy nguy như thị. Nhược hữu chúng-sanh đa ư dâm dục, thường niệm cung kính Quán-thế âm Bồ-tát tiện đắc ly dục; nhược đa sân nhuế, thường niệm cung kính Quán thế-âm Bồ-tát, tiện đắc ly sân; nhược đa ngu si, thường niệm cung kính Quán-thế-âm Bồ-tát tiện đắc ly si. Vô-tận-ý! Quán-thế-âm Bồ-tát, hữu như thị đẳng đại oai thần lực, đa sở nhiêu ích. Thị cố chúng-sanh, thường ưng, tâm niệm. Nhược hữu nữ nhơn, thiết dục cầu nam, lễ bái cúng dường Quán-thế-âm Bồ-tát, tiện sanh phước đức trí-huệ chi nam; thiết dục cầu nữ, tiện sanh đoan chánh hữu tướng chi nữ, túc thực đức bổn, chúng nhơn ái kính. 

Vô-tận-ý! Quán-thế-âm Bồ-tát hữu như thị lực, nhược hữu chúng-sanh, cung kính lễ bái Quán-thế-âm Bồ-tát, phước bất đường quyên, thị cố chúng sanh, giai ưng thọ trì Quán-thế-âm Bồ tát danh hiệu. Vô-tận-ý! Nhược hữu nhơn thọ trì lục thập nhị ức hằng-hà sa Bồ-tát danh tự, phục tận hình cúng-dường ẩm thực, y-phục, ngọa-cụ, y-dược, ư nhữ ý vân hà? Thị thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn công-đức đa phủ?

Vô-tận-ý ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn". Phật ngôn: "Nhược phục hữu nhơn, thọ trì Quán-thế-âm Bồ-tát danh hiệu, nãi chí nhất thời lễ bái, cúng dường, thị nhị nhơn phước, chánh đẳng vô dị! ư bá thiên vạn ức kiếp, bất khả cùng tận. Vô-tận-ý, thọ trì Quán-thế âm Bồ-tát danh hiệu, đắc như thị vô lượng vô biên phước đức chi lợi". 

Vô-tận-ý Bồ-tát bạch Phật ngôn: Thế-Tôn, Quán-thế-âm Bồ-tát, vân hà du thử Ta-bà thế giới? Vân-hà nhi vị chúng-sanh thuyết-pháp? Phương-tiện chi lực, kỳ sự vân hà? Phật cáo Vô-tận-ý Bồ-tát: "Thiện nam tử, nhược hữu quốc độ chúng sanh, ưng dĩ Phật thân đắc độ giả, Quán-thế-âm Bồ-tát tức hiện Phật thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Bích-Chi-Phật thân đắc độ giả, tức hiện Bích-Chi-Phật thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Thinh-văn thân đắc độ giả, tức hiện Thinh-văn thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Phạm Vương thân đắc độ giả, tức hiện Phạm-Vương thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Ðế-Thích thân đắc độ giả, tức hiện Ðế-Thích thân, nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Tự-tại Thiên thân đắc độ giả, tức hiện Tự-tại Thiên thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Ðại Tự-tại Thiên thân đắc độ giả, tức hiện Ðại Tự tại Thiên thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Thiên đại-tướng-quân thân đắc độ giả, tức hiện Thiên đại-tướng-quân thân nhi vị thuyết pháp; ưng dĩ Tỳ-Sa-Môn thân đắc độ giả, tức hiện Tỳ-Sa-Môn thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Tiểu-Vương thân đắc độ giả, tức hiện Tiểu-Vương thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Trưởng-giả thân đắc độ giả, tức hiện Trưởng-giả thân nhi vị thuyết pháp; ưng dĩ Cư-sĩ thân đắc độ giả, tức hiện Cư-sĩ thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Tể-quan thân đắc độ giả, tức hiện Tể-quan thân, nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Bà-la-môn thân đắc độ giả, tức hiện Bà-la-môn thân nhi vị thuyết pháp; ưng dĩ Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di thân đắc độ giả, tức hiện Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Trưởng-giả, Cư-sĩ, Tể-quan, Bà-la-môn, Phụ nữ thân đắc độ giả, tức hiện Phụ-nữ thân nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Ðồng-nam, Ðồng-nữ thân đắc độ giả, tức hiện Ðồng-nam, Ðồng-nữ thân nhi vị thuyếtpháp; ưng dĩ Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhơn, Phi nhơn đẳng thân đắc độ giả tức giai hiện chi nhi vị thuyết-pháp; ưng dĩ Chấp-kim cang thần đắc độ giả, tức hiện Chấpkim-cang thần nhi vị thuyết-pháp. Vô-tận-ý! Thị Quán-thế-âm Bồ-tát thành tựu như thị công-đức dĩ chủng chủng hình, du chư quốc độ, độ thoát chúng-sanh, thị cố nhữ đẳng, ưng đương nhứt tâm cúng-dường Quán-thế-âm Bồ-tát. Thị Quán-thế-âm Bồ-tát ma-ha-tát, ư bố úy cấp nạn chi trung, năng thí vô-úy; thị cố thử Ta-bà thế giới, giai hiệu chi vi thí vô-úy giả. 

Vô-tận-ý Bồ-tát bạch Phật ngôn: "Thế-Tôn! Ngã kim đương cúng dường Quán-thế-âm Bồ-tát ". Tức giải cảnh chúng bảo châu anh-lạc, giá trị bá thiên lượng kim, nhi dĩ dữ chi, tác thị ngôn: "Nhơn giả thọ thử pháp thí, trân bảo anh-lạc". Thời Quán-thế-âm Bồ-tát bất khẳng thọ chi. 

Vô-tận-ý phục bạch Quán-thế-âm Bồ-tát ngôn: "Nhơn giả mẫn ngã đẳng cố, thọ thử anh-lạc". Nhĩ thời Phật cáo Quán-thế-âm Bồ-tát: "Ðương mẫn thử Vô-tận-ý Bồ-tát cập tứ-chúng: Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn- thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhơn, Phi-nhơn đẳng cố, thọ thử anh-lạc". Tức thời Quán-thế-âm Bồ-tát, mẫn chư tứ chúng, cập ư Thiên, Long, Nhơn, Phi-Nhơn đẳng, thọ kỳ anh-lạc, phân tác nhị phần: Nhất phần phụng Thích-Ca Mâu-Ni Phật, nhất phần phụng Ða-bảo Phật tháp. 

Vô-tận-ý, Quán-thế-âm Bồ-tát hữu như thị tự-tại thần lực du ư Ta-bà thế giới. 

Nhĩ thời Vô-tận-ý Bồ-tát dĩ kệ vấn viết: 

Thế-Tôn diệu tướng cụ 

Ngã kim trùng vấn bỉ 

Phật-tử hà nhân duyên 

Danh vi Quán-thế-âm? 

Cụ túc diệu tướng tôn 

Kệ đáp Vô-tận-ý: 

Nhữ thính Quán-âm hạnh 

Thiện ứng chư phương sở 

Hoằng thệ thâm như hải 

Lịch kiếp bất tư nghị 

Thị đa thiên ức 

Phật Phát đại thanh-tịnh nguyện 

Ngã vị nhữ lược thuyết 

Văn danh cập kiến thân 

Tâm niệm bất không quá 

Năng diệt chư hữu khổ, 

Giả sử hưng hại ý 

Thôi lạc đại hỏa khanh 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Hỏa khanh biến thành trì. 

Hoặc phiêu lưu cự hải 

Long ngư chư quỷ nạn 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Ba lãng bất năng một. 

Hoặc tại Tu-di phong 

Vi nhơn sở thôi đọa 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Như nhật hư không trụ 

Hoặc bị ác nhơn trục 

Ðọa lạc Kim-cang sơn 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Bất năng tổn nhứt mao. 

Hoặc trị oán tặc nhiễu 

Các chấp đao gia hại 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Hàm tức khởi từ tâm 

Hoặc tao vương nạn khổ 

Lâm hình dục thọ chung 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Ðao tầm đoạn đoạn hoại 

Hoặc tù cấm già tỏa 

Thủ túc bị nữu giới 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Thích nhiên đắc giải-thoát, 

Chú trớ chư độc dược 

Sở dục hại thân giả

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Hoàn trước ư bổn nhơn. 

Hoặc ngộ ác La-sát Ðộc long chư quỷ đẳng 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Thời tất bất cảm hại. 

Nhược ác thú vi nhiễu 

Lợi nha trảo khả bố 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Tật tẩu vô biên phương. 

Ngoan xà cập phúc yết 

Khí độc yên hỏa nhiên 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Tầm thinh tự hồi khứ. 

Vân lôi cổ xiết điện 

Giáng bạc chú đại võ 

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Ứng thời đắc tiêu tán. 

Chúng-sanh bỉ khổn ách 

Vô lượng khổ bức thân 

Quán-âm diệu trí lực 

Năng cứu thế-gian khổ.

Cụ túc thần-thông lực 

Quảng tu trí phương-tiện 

Thập phương chư quốc-độ 

Vô sát bất hiện thân. 

Chủng chủng chư ác-thú 

Ðịa-ngục quỷ, súc-sanh 

Sanh, lão, bệnh, tử, khổ 

Dĩ tiệm tất linh diệt. 

Chơn quán thanh tịnh quán. 

Quảng đại Trí-huệ quán 

Bi quán cập Từ quán 

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng. 

Vô cấu thanh-tịnh quang 

Huệ nhật phá chư ám 

Năng phục tai phong hỏa 

Phổ minh chiếu thế-gian. 

Bi thể giới lôi chấn 

Từ ý diệu đại vân 

Chú cam-lồ pháp võ 

Diệt trừ phiền-não diệm 

Tránh tụng kinh quan xứ 

Bố úy quân trận trung 

Quảng cáo

Niệm bỉ Quán-âm lực 

Chúng oán tất thối tán. 

Diệu âm Quán-thế-âm 

Phạm-âm hải-triều âm 

Thắng bỉ thế-gian âm 

Thị cố tu thường niệm 

Niệm niệm vật sanh nghi. 

Quán-thế-âm tịnh thánh 

Ư khổ não tử ách

Năng vị tác y hỗ. 

Cụ nhứt thế công-đức 

Từ nhãn thị chúng-sanh 

Phước tụ hải vô lượng 

Thị cố ưng đảnh lễ. 

Nhĩ thời Trì-Ðịa Bồ-tát, tức tùng tòa khởi, tiền bạch Phật ngôn: "Thế-Tôn, nhược hữu chúng-sanh văn thị Quán-thế-âm Bồ-tát phẩm, tự-tại chi nghiệp, phổ môn thị hiện, thần thông lực giả; đương tri thị nhơn công-đức bất thiểu". 

Phật thuyết thị Phổ-môn phẩm thời, chúng trung bát vạn tứ thiên chúng sanh, giai phát vô đẳng đẳng A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm.

DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA KINH QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT PHỔ-MÔN PHẨM 

CHƠN-NGÔN VIẾT 

Án, đa rị đa rị, đốt đa rị, đốt đốt đa rị, ta bà ha. (3 lần) 

LỤC TỰ ÐẠI MINH CHƠN-NGÔN 

Án, ma ni bát di hồng. (108 lần)

PHỔ MÔN TÁN

Phổ môn thị hiện 

Cứu khổ tầm thinh 

Từ bi thuyết-pháp độ mê tân 

Phó cảm ứng tùy hình 

Tứ hải thanh ninh 

Bát nạn vĩnh vô xâm.

THẬP NHỊ NGUYÊN

Nam-mô hiệu Viên-thông danh Tự tại, Quán-Âm Như-Lai, quảng phát hoằng thệ nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô nhứt niệm tâm vô quái ngại, Quán-Âm Như-Lai thường cư Nam-hải nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô trụ Ta-bà, U-minh giới, Quán-Âm Như-Lai tầm thinh cứu khổ nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô hàng tà-ma trừ yêu-quái, Quán-Âm Như-Lai, năng trừ nguy hiểm nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô thanh-tịnh bình thùy dương-liễu, Quán-Âm Như-Lai cam-lộ sái tâm nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô đại từ-bi, năng hỷ-xả, Quán-Âm Như-Lai, thường hành bình đẳng nguyện. (1 lạy)

Nam-mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quán-Âm Như-Lai thệ diệt tam-đồ nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô vọng nam-nham, cần lễ bái, Quán-Âm Như-Lai, già tỏa giải-thoát nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô tạo pháp thuyền du khổ hải, Quán-Âm Như-Lai độ tận chúng-sanh nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quán-Âm Như-Lai tiếp dẫn Tây Phương nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô Vô-lượng-thọ Phật cảnh giới, Quán-Âm Như-Lai, Di-Ðà thọ ký nguyện. (1 lạy) 

Nam-mô đoan nghiêm thân vô tỉ tái, Quán-Âm Như-Lai, quả tu thập nhị nguyện. (1 lạy)

CỬ TÁN 

Quán Âm Đại sĩ, 

Phổ hiệu Viên Thông, 

Thập nhị đại nguyện thệ hoằng thâm. 

Khổ hải phiếm từ phong, 

Phổ tế tâm dung, 

Sát sát hiện vô cùng. 

Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lần)

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH 

Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá Lợi Tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát đoả y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa, cố đắc A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ Đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.” (3 lần) 

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN 

Nam mô a di đa bà dạ. 

Đa tha già đa dạ. 

Đa điệt dạ tha. 

A di rị đô bà tỳ, 

A di rị đa tất đam bà tỳ. 

A di rị đa tỳ ca lan đế. 

A di rị đa tỳ ca lan đa. 

Dà di nị, già già na, 

Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần)

TÁN PHẬT

A-Di-Ðà Phật thân kim sắc, 

Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân, 

Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di, 

Cám mục trừng thanh tứ đại hải,

Quang trung hóa Phật vô số ức, 

Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên, 

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, 

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. 

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, tiếp dẫn đạo sư A-Di-Ðà Phật.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (108 lần) 

Nam-mô Đại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)

Nam-mô Đại Lực Ðại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần) 

Nam-mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần) 

Nam-mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

SÁM CẦU AN

Con quỳ lạy Phật chứng minh, 

Hai hàng Phật tử tụng kinh cầu nguyền, 

Cầu cho thí chủ hiện tiền, 

Nội gia quyến thuộc bình yên điều hòa, 

Thọ trường hưởng phước nhàn ca, 

Phổ Môn kinh tụng trong nhà thảnh thơi, 

Quan Âm phò hộ vui chơi, 

Mười hai câu nguyện độ đời nên danh, 

Thiện nam tín nữ lòng thành, 

Ăn chay niệm Phật làm lành vái van. 

Quan Âm xem xét thế gian, trầm, 

Mau mau niệm Phật Quan Âm, 

Tai qua nạn khỏi định tâm sáng lòa, 

Đương cơn lửa cháy đốt ta, 

Niệm danh Bồ Tát hóa ra sen vàng. 

Gió Đông đi biển chìm thuyền, 

Niệm danh Bồ Tát sóng tan hết liền. 

Tà ma quỉ báo khùng điên, 

Niệm danh Bồ Tát mạnh liền khôn ngoan.

Vào rừng cọp rắn nghinh ngang, 

Niệm danh Bồ Tát nó càng chạy xa. 

Tội tù ngục tối khảo tra, 

Quan Âm tưởng niệm thả ra nhẹ nhàng. 

Bị trù bị ếm mê mang, 

Quan Âm niệm niệm vái van tịnh bình. 

Quan Âm thọ ký làm tin, 

Tùy duyên thuyết pháp độ mình hết mê. 

Nương theo Bồ Tát trở về, 

Thấy mình ngồi gốc Bồ đề giống in, 

Tay cầm bầu nước tịnh bình, 

Tay cầm nhành liễu quang minh thân vàng, 

Cam lồ rưới khắp thế gian, 

Tốt tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn. 

Quan Âm cứu hết tai nàn, 

Độ đời an lạc mười phương thái bình, 

Quan Âm điểm đạo độ mình, 

Quan Âm Bồ Tát chứng minh độ đời. 

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ-tát. (3 lần)

TIÊU TAN KIẾT TƯỜNG THẦN CHÚ 

Nẵng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẫm. A bát ra để, hạ đa sá, ta nẵng nẫm. Đát diệt tha. Án, khê khê, khê hế, khế hế, hồng hồng nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắt sá, để sắt sá, sắt trí rị, sắt trí rị, ta phấn tra, ta phấn ta, phiến để ca, thất rị duệ, ta bà ha. (3 lần)

CỬ TÁN

Tiêu tai thần chú

Chí diệu chí linh,

Phước tinh chú thọ bảo khương ninh,

Đại chúng (tín chủ) đắc hòa bình

La kế kim tinh,

Ác diệu hóa kiết tường.

Nam mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ-Tát ( 3 lần)

Nguyện trú kiết tường, dạ kiết tường,

Trú dạ lục thời hàng kiết tường,

Nhứt thiết thời trung, kiết tường giả,

Nguyện chư Thượng sư ai nhiếp thọ,

Nguyện trú kiết tường, dạ kiết tường, 

Trú dạ lục thời hằng kiết tường, 

Nhứt thiết thời trung, kiết tường giả, 

Nguyện chư Thượng sư ai nhiếp thọ. 

Nguyện trú kiết tường, dạ kiết tường, 

Trú dạ lục thời hằng kiết tường, 

Nhứt thiết thời trung, kiết tường giả, 

Nguyện chư Tam Bảo ai nhiếp thọ. 

Nguyện trú kiết tường, dạ kiết tường, 

Trú dạ lục thời hằng kiết tường, 

Nhứt thiết thời trung, kiết tường giả, 

Nguyện chư Hộ Pháp thường ủng hộ

Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ-tát (3 lần)

HỒI HƯỚNG

Cầu an công đức thù thắng hạnh,

Vô biên thắng phước giai hồi hướng, 

Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh, 

Tốc vãng vô lượng quang Phật sát. 

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não, 

Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu, 

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ, 

Thế thế thường hành Bồ-tát đạo. 

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung, 

Cửu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu, 

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, 

Bất thối Bồ tát vi bạn lữ. 

Nguyện dĩ thử công đức, 

Phổ cập ư nhứt thiết, 

Ngã đẳng dữ chúng sanh, 

Giai cộng thành Phật đạo. 

(1 tiếng chuông và 1 lạy)

PHỤC NGUYỆN 

Nam mô A Di Đà Phật (Sám chủ)

Phục nguyện: Quán Âm thị hiện, thuyết pháp độ sanh, lâm nạn xưng danh, tầm thinh cứu khổ, thuyền từ phổ độ, nhứt thiết ác duyên, tất giai tiêu diệt

Hiện tiền đệ tử chúng đẳng, thân xu khương thới, mạng vị bình an, tứ thời vô tiêm tiểu chi tai, bát tiết hữu trùng lai chi khánh.

Phổ nguyện: Gia đình hưng thạnh, quyến thuộc tăng phước hoàn duyên, pháp giới nhơn thiên, tề thành Phật đạo.

Nam Mô A Di Đà Phật

TAM TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải Đại đạo, phát Vô thượng tâm. (1 lạy) 

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập Kinh tạng, trí huệ như hải. (1 lạy) 

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý Đại chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

y-nghia-cua-kinh-pho-mon-va-cach-tung-kinh-pho-mon-chuan-nhat-5

Khi nào nên tụng Kinh Phổ Môn?

Kinh Phổ Môn chủ yếu được tụng vào các dịp:

  • Cầu an
  • Cầu khỏi bệnh
  • Cầu tai qua nạn khỏi
  • Cầu gia đạo bình an
  • Cầu quốc thái dân an
  • Cầu mưa hòa gió thuận

Hay tụng Kinh Phổ Môn vào những dịp:

  • Khánh hỷ
  • Lễ an vị Phật
  • Lễ khai trương
  • Lễ khởi công
  • Lễ khánh thành
  • Lễ tân gia
  • Lễ sinh nhật
  • Lễ đáo tuế 
  • Lễ cầu thọ, lễ chúc thọ...

Lưu ý khi tụng Kinh Phổ Môn

Theo thói quen truyền thống, người ta thường tụng Kinh Phổ Môn theo âm Hán Việt. Thế nhưng, nếu có thể được thì nên tụng theo bản dịch tiếng Việt thì sẽ tạo được hiệu quả tốt đẹp hơn. Khi đó, người tụng kinh sẽ hiểu được ý nghĩa của từng câu kinh thay vì chỉ tụng đọc mà không hiểu ý nghĩa.

Nếu gia đình có bố trí bàn thờ Phật thì việc cầu an nên thực hiện ngay tại nhà là tốt nhất. Chỉ khi điều kiện nơi ở của ta không cho phép, quá chật chội hoặc ồn ào, phức tạp... thì nên nghĩ đến việc cầu an ở chùa.

Dù cầu an được tiến hành ở chùa hay tại nhà cũng đều nên chuẩn bị chu đáo, trang nghiêm những vật phẩm cúng dường tối thiểu như hương đèn, hoa quả...

Sau khi chuẩn bị đầy đủ vật phẩm cúng dường, ta tiến hành lau dọn và bày biện bàn thờ Phật cho thật trang nghiêm, sạch sẽ trước khi tiến hành tụng Kinh Phổ Môn. Tất cả nên tự mình thực hiện, không nên sai bảo người khác, trừ khi họ cũng có cùng tâm nguyện cầu an.

Phật tử nên rửa tay, súc miệng cho sạch sẽ và y phục phải trang nghiêm. Khi ngồi, đứng phải giữ thân cho ngay thẳng. Lúc lạy hay quỳ phải giữ thân đoan nghiêm. Miệng tụng đọc âm thanh vừa đủ nghe.

Toàn bộ nội dung phẩm Kinh Phổ Môn nói về tâm đại bi không cùng tận của đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Chính tâm đại bi này đã mang lại cho ngài năng lực hiện thân trong khắp mọi cảnh giới khác nhau, mang đến sự an ổn không lo sợ cho tất cả chúng sinh trong mọi tình huống, chỉ cần những chúng sinh đó có sự nhất tâm xưng niệm danh hiệu của ngài.

Chúng ta cần thấy rõ, việc cầu an không có nghĩa là khẩn xin Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Chúng ta không thể đối trước Bồ Tát để khẩn cầu ngài ban cho ta điều này, giúp cho ta điều nọ. Đức Phật đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại trong kinh điển rằng chính tư tưởng, hành vi và lời nói của chúng ta quyết định mọi nghiệp quả mà ta nhận lĩnh, không phải do bất cứ một đấng quyền năng nào ban phước giáng họa, càng không thể dựa dẫm vào một năng lực bên ngoài nào đó để làm thay đổi kết quả của nghiệp.

Mỗi người nên hiểu rõ rằng việc cầu an trước hết là quay về quán xét tự tâm. Khi bắt đầu chuẩn bị cho nghi thức cầu an là tâm thức ta đã bắt đầu ngưng lắng các vọng niệm, bắt đầu xoay hướng về Tam bảo, về sự trang nghiêm thanh tịnh trước Phật đài, nhờ đó mà tạo điều kiện cho sự tiếp nhận ý nghĩa kinh văn một cách sâu sắc hơn.

Hiểu đúng và vận dụng Kinh Phổ Môn vào cuộc sống hàng ngày, mọi sự bất an trong lòng ta sẽ được xua tan đi nhờ vào năng lực đại bi của Bồ Tát Quán Thế Âm, mà cũng chính là năng lực đại bi được sinh khởi và nuôi dưỡng trong tâm thức ta suốt buổi lễ cầu an.

Sau lễ cầu an, mọi tâm niệm tham lam, sân hận, ganh ghét trong ta đều sẽ nhất thời lắng xuống không còn nữa, ta cảm nhận được một trạng thái thanh thản nhẹ nhàng mà bình thường ta chưa từng có được. Nên dành một thời gian ngồi xuống ngay trước bàn Phật sau mỗi buổi lễ cầu an để duy trì trạng thái tâm thức an tịnh và quán xét những nguyên nhân đã gây ra bất an cho bản thân mình trước đó.

Nếu chúng ta đến chùa nhờ thầy tụng kinh cầu an, hoặc thỉnh chư tăng đến nhà thì hiệu quả sẽ không bằng việc chính ta nhận ra và thực hiện. Việc cầu an không thể là một nghi thức ban phước tránh họa mà là giúp xua đi sự bất an trong ta.

Khi không có điều kiện thực hiện việc cầu an tại nhà, có thể tổ chức ở chùa nhưng vẫn nên tự mình tụng niệm, lễ bái chí thành, thay vì chỉ dựa vào sự tụng niệm của chư tăng. Khi chư tăng tụng kinh thì chúng ta nên để hết tâm ý mình vào từng lời kinh tiếng kệ mới mong có được hiệu quả.

Xem thêm: Cách tụng kinh siêu độ tại nhà cho các Phật tử

Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo