Liên hệ với chúng tôi
Quảng cáo

Đạo

Những bài kệ Kinh Pháp Cú ngắn gọn, ý nghĩa của đức Phật Thích Ca 

Kinh Pháp Cú là 1 trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh trong Kinh tạng Pali. Kinh Pháp Cú tổng hợp những câu dạy ngắn gọn, đầy ý nghĩa của đức Phật Thích Ca.

Những bài kệ Kinh Pháp Cú ngắn gọn, ý nghĩa của đức Phật Thích Ca 

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Những bài kệ Kinh Pháp Cú ngắn gọn, ý nghĩa của đức Phật Thích Ca 
Photo: internet

Kinh Pháp Cú là gì?

Theo Wiki, Kinh Pháp Cú (Kinh Lời Vàng hay Lời Phật Dạy) là 1 trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu bộ kinh trong Kinh Tạng Pali. Đây là quyển kinh Phật giáo phổ thông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Nhiều ý kiến nhận định, Kinh Pháp Cú là Thánh Thư của đạo Phật. 

Giải nghĩa cụ thể, Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời của đức Phật. Cú (Pada) có nghĩa là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, Pada còn có ý nghĩa khác là con đường. Dhammapada thường được dịch là Con đường Chân lý (Path of Truth).

Con đường Phật Pháp tập hợp 423 bài kệ do đức Phật nói ra trong nhiều thời điểm khác nhau (suốt 45 năm hoằng dương chánh Pháp của Ngài). Các bài kệ được sắp xếp trong 26 tác phẩm, do các vị đại đệ tử thu xếp và tụng đọc trong Đại hội Kết tập Kinh điển lần đầu tiên sau khi đức Phật nhập diệt.

Được biết, mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu tập sâu sắc, phong phú, không thể đọc một lần mà hiểu hết được. Các bài kệ cần đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu các bản chú giải, suy nghiệm từ các tu chứng tự thân thì mới giác mộ và hiểu được ý nghĩa tâm sâu của nó.

kinh-phap-cu-la-gi-va-kinh-phap-cu-co-bao-nhieu-bai-ke
Kinh Pháp cú là bộ kinh tổng hợp các lời dạy của đức Phật Thích ca

Để hiểu một cách chính xác, đơn giản về Kinh Pháp cú, các bạn hình dung 3 cái bồ lớn, trong đó góp nhiều bài kinh ghi trên lá bối bởi các đệ tử của Phật. Sau nhiều lần ôn đi tụng lại, truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Bồ đầu tiên chứa Kinh Tạng (Sutta-pitaka) gồm các bài giảng của đức Phật.

Bồ thứ nhì chứa Luật Tạng (Vinaya-pitaka) gồm các giới luật.

Bồ thứ ba chứa Luận Tạng (Abhidhamma-pitaka) gồm các bài luận giải viết sau này.

Kinh Tạng gồm hơn 10000 bài kinh, chia ra làm 5 Bộ: Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya), Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikaya), Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta-nikaya), Tăng Chi Bộ Kinh(Anguttara-nikaya), và Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka-nikaya). Tiểu Bộ Kinh gồm 15 phần, trong đó phần 2 chính là Kinh Pháp Cú.

Kinh Pháp Cú thông dụng được viết bằng tiếng pali, gần với tiếng maghadi là ngôn ngữ dùng bởi đức Phật Thích ca. Ngài thường trụ tại vương quốc Maghada (tỉnh Bihar hiện nay). Hiện đã có nhiều bản dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau, trong đó tiếng Việt. 

Tên Kinh gồm hai từ pali ghép lại với nhau: Dhamma (Dharma tiếng Phạn), là giáo lý của đức Phật, và pada, là "lời nói, câu kệ", đồng thời cũng có nghĩa là "con đường". Do đó Dhammapada có thể dịch là " Lời Chánh Pháp " (Pháp Cú tiếng Hán-Việt), hoặc là "Con đường của đức Phật ”.

Quyển kinh có 423 bài kệ, chia làm 26 tác phẩm, cụ thể:

01. Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu

02. Kinh Pháp Cú Phẩm Không Phóng Dật

03. Kinh Pháp Cú Phẩm Tâm

04. Kinh Pháp Cú Phẩm Hoa

05. Kinh Pháp Cú Phẩm Ngu

06. Kinh Pháp Cú Phẩm Hiền Trí

07. Kinh Pháp Cú Phẩm A-La-Hán

08. Kinh Pháp Cú Phẩm Ngàn

09. Kinh Pháp Cú Phẩm Ác

10. Kinh Pháp Cú Phẩm Hình Phạt

11. Kinh Pháp Cú Phẩm Già

12. Kinh Pháp Cú Kinh Pháp Cú Phẩm Tự Ngã

13. Kinh Pháp Cú Phẩm Thế Gian

14. Kinh Pháp Cú Phẩm Phật Ðà

15. Kinh Pháp Cú Phẩm An Lạc

16. Kinh Pháp Cú Phẩm Hỷ Ái

17. Kinh Pháp Cú Phẩm Phẫn Nộ

18. Kinh Pháp Cú Phẩm Cấu Uế

19. Kinh Pháp Cú Phẩm Pháp Trụ

20. Kinh Pháp Cú Phẩm Đạo

21. Kinh Pháp Cú Phẩm Tạp Lục

22. Kinh Pháp Cú Phẩm Ðịa Ngục

23. Kinh Pháp Cú Phẩm Voi

24. Kinh Pháp Cú Phẩm Tham Ái

25. Kinh Pháp Cú Phẩm Tỷ Kheo

26. Kinh Pháp Cú Phẩm Bà La Môn

120 trong số 423 bài kệ Kinh Pháp cú của đức Phật Thích Ca

Kinh Pháp Cú tóm thâu tinh hoa giáo lý của nhà Phật. Đọc những bài kệ trong kinh này Phật tử sẽ cảm thấy như chính mình được trực tiếp nghe lời Phật dạy từ hơn 2500 năm trước vọng lại. Mỗi bài kệ là những giáo lý căn bản nguyên thủy của đức Phật.

Phẩm Song Yếu

1. Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo;

Nếu với ý ô nhiễm,

Nói lên hay hành động,

Khổ não bước theo sau,

Như xe, chân vật kéo.

2. Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo;

Nếu với ý thanh tịnh,

Nói lên hay hành động,

An lạc bước theo sau,

Như bóng, không rời hình.

3. Nó mắng tôi, đánh tôi,

Nó thắng tôi, cướp tôi

Ai ôm hiềm hận ấy,

Hận thù không thể nguôi.

kinh-phap-cu-la-gi-va-kinh-phap-cu-co-bao-nhieu-bai-ke

4. Nó mắng tôi, đánh tôi,

Nó thắng tôi, cướp tôi

Không ôm hiềm hận ấy,

Hận thù được tự nguôi.

5. Với hận diệt hận thù,

Ðời này không có được.

Không hận diệt hận thù,

6. Và người khác không biết,

Chúng ta đây bị hại.

Chỗ ấy, ai hiểu được

Tranh luận được lắng êm.

7. Ai sống nhìn tịnh tướng,

Không hộ trì các căn,

ăn uống thiếu tiết độ,

biếng nhác, chẳng tinh cần.

Ma uy hiếp kẻ ấy,

như cây yếu trước gió.

8. Ai sống quán bất tịnh,

Khéo hộ trì các căn,

ăn uống có tiết độ,

Có lòng tin, tinh cần,

Ma không uy hiếp được,

Như núi đá, trước gió.

9. Ai mặc áo cà sa.

tâm chưa rời uế trược,

không tự chế, không thực,

không xứng áo cà sa

10. Ai rời bỏ uế trược,

giới luật khéo nghiêm trì,

tự chế, sống chơn thực,

thật xứng áo cà sa.

11. Không chân, tưởng chân thật,

chân thật, thấy không chân:

chúng không đạt chân thật,

do tà tư, tà hạnh.

12. Chân thật, biết chân thật,

Không chân, biết không chân:

chúng đạt được chân thật,

do chánh tư, chánh hạnh.

13. Như mái nhà vụng lợp,

Mưa liền xâm nhập vào.

Cũng vậy tâm không tu,

Tham dục liền xâm nhập.

14. Như ngôi nhà khéo lợp,

Mưa không xâm nhập vào.

Cũng vậy tâm khéo tu,

Tham dục không xâm nhập.

15. Nay sầu, đời sau sầu,

Kẻ ác, hai đời sầu;

Nó sầu, nó ưu não,

Thấy nghiệp uế mình làm.

16. Nay vui, đời sau vui,

Làm phước, hai đời vui,

Nó vui, nó an vui,

Thấy nghiệp tịnh mình làm.

17. Nay than, đời sau than,

Kẻ ác, hai đời than,

Nó than: ‘Ta làm ác’

Ðọa cõi dữ, than hơn.

18. Nay sướng, đời sau sướng,

Làm phước, hai đời sướng.

Nó sướng: ‘Ta làm thiện’,

Sanh cõi lành, sướng hơn.

19. Nếu người nói nhiều kinh,

Không hành trì, phóng dật;

Như kẻ chăn bò người,

Không phần Sa môn hạnh

20. Dầu nói ít kinh điển,

Nhưng hành pháp, tùy pháp,

Từ bỏ tham, sân, si,

Tĩnh giác, tâm giải thoát,

Không chấp thủ hai đời,

Dự phần Sa môn hạnh

Phẩm Không Phóng Dật

21. Không phóng dật, đường sống,

Phóng dật là đường chết.

Không phóng dật, không chết,

Phóng dật như chết rồi.

22. Biết rõ sai biệt ấy,

Người trí không phóng dật,

Hoan hỷ, không phóng dật,

An vui hạnh bậc Thánh.

23. Người hằng tu thiền định,

Thường kiên trì tinh tấn.

Bậc trí hưởng Niết Bàn,

Ðạt an tịnh vô thượng.

24. Nỗ lực, giữ chánh niệm,

Tịnh hạnh, hành thận trọng

Tự điều, sống theo pháp,

Ai sống không phóng dật,

Tiếng lành ngày tăng trưởng.

25. Nỗ lực, không phóng dật,

Tự điều, khéo chế ngự.

Bậc trí xây hòn đảo,

Nước lụt khó ngập tràn.

26. Chúng ngu si, thiếu trí,

Chuyên sống đời phóng dật.

Người trí, không phóng dật,

Như giữ tài sản quý

27. Chớ sống đời phóng dật,

Chớ mê say dục lạc.

Không phóng dật, thiền định,

Ðạt được an lạc lớn.

28. Người trí dẹp phóng dật,

Với hạnh không phóng dật,

Leo lầu cao trí tuệ,

Không sầu, nhìn khổ sầu,

Bậc trí đứng núi cao,

Nhìn kẻ ngu, đất bằng.

29. Tinh cần giữa phóng dật,

Tỉnh thức giữa quần mê.

Người trí như ngựa phi,

Bỏ sau con ngựa hèn.

30. Ðế Thích không phóng dật,

Ðạt ngôi vị Thiên chủ.

Không phóng dật, được khen ;

Phóng dật, thường bị trách.

31. Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Bước tới như lửa hừng,

Thiêu kiết sử lớn nhỏ.

32. Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Không thể bị thối đọa,

Nhất định gần Niết Bàn.

Phẩm Tâm

33. Tâm hoảng hốt giao động,

Khó hộ trì, khó nhiếp,

Người trí làm tâm thẳng,

Như thợ tên, làm tên.

34. Như cá quăng lên bờ,

Vất ra ngoài thủy giới;

Tâm này vùng vẫy mạnh,

Hãy đoạn thế lực Ma.

35. Khó nắm giữ, khinh động,

Theo các dục quay cuồng.

Lành thay, điều phục tâm;

Tâm điều, an lạc đến.

36. Tâm khó thấy, tế nhị,

Theo các dục quay cuồng.

Người trí phòng hộ tâm,

Tâm hộ, an lạc đến.

37. Chạy xa, sống một mình,

Không thân, ẩn hang sâu

Ai điều phục được tâm,

Thoát khỏi Ma trói buộc.

38. Ai tâm không an trú,

Không biết chân diệu pháp,

Tịnh tín bị rúng động,

Trí tuệ không viên thành.

Là định luật ngàn thu.

39. Tâm không đầy tràn dục,

Tâm không (hận) công phá,

Ðoạn tuyệt mọi thiện ác,

Kẻ tỉnh không sợ hãi.

40. Biết thân như đồ gốm,

Trú tâm như thành trì,

Chống Ma với gươm trí ;

Giữ chiến thắng  không tham

41. Không bao lâu thân này,

Sẽ nằm dài trên đất,

Bị vất bỏ, vô thức,

Như khúc cây vô dụng.

42. Kẻ thù hại kẻ thù,

Oan gia hại oan gia,

Không bằng tâm hướng tà, 

Gây ác cho tự thân.

kinh-phap-cu-la-gi-va-kinh-phap-cu-co-bao-nhieu-bai-ke

43. Ðiều mẹ cha bà con,

Không có thể làm được,

Tâm hướng chánh làm được

Làm được tốt đẹp hơn.

Phẩm Hoa

44. “Ai chinh phục đất này

Dạ ma, Thiên giới này?

Ai khéo giảng Pháp cú,

Như người khéo hái hoa?”

45. “Hữu học chinh phục đất,

Dạ ma, Thiên giới này.

Hữu học giảng Pháp cú,

Như người khéo hái hoa.”

46. “Biết thân như bọt nước,

Ngộ thân là như huyễn,

Bẻ tên hoa của ma,

Vượt tầm mắt thần chết.”

47. “Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say, tham nhiễm,

Bị thần chết mang đi,

Như lụt trôi làng ngủ.”

48.Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say tham nhiễm,

Các dục chưa thỏa mãn,

Ðã bị chết chinh phục.”

49. “Như ong đến với hoa,

Không hại sắc và hương,

Che chở hoa, lấy nhụy.

Bậc Thánh đi vào làng “.

50. “Không nên nhìn lỗi người,

Người làm hay không làm.

Nên nhìn tự chính mình.

Có làm hay không làm.”

51. “Như bông hoa tươi đẹp,

Có sắc nhưng không hương.

Cũng vậy, lời khéo nói,

Không làm, không kết quả.”

52. “Như bông hoa tươi đẹp,

Có sắc lại thêm hương;

Cũng vậy, lời khéo nói,

Có làm, có kết quả.”

53. “Như từ một đống hoa,

Nhiều tràng hoa được làm.

Cũng vậy, thân sanh tử,

Phải làm nhiều việc lành.”

54. “Hương các loại hoa thơm

Không ngược bay chiều gió

Nhưng hương người đức hạnh

Ngược gió khắp tung bay

Chỉ có bậc chân nhân

Tỏa khắp mọi phương trời.”

55. “Hoa chiên đàn, già la,

Hoa sen, hoa vũ quý,

Giữa những hương hoa ấy,

Giới hương là vô thượng.”

56. “Ít giá trị hương này,

Quảng cáo

Hương già la, chiên đàn;

Chỉ hương người đức hạnh,

Tối thượng tỏa Thiên giới.”

57. “Nhưng ai có giới hạnh,

An trú không phóng dật,

Chánh trí, chơn giải thoát,

Ác ma không thấy đường.”

58. “Như giữa đống rác nhớp,

Quăng bỏ trên đường lớn,

Chỗ ấy hoa sen nở,

Thơm sạch, đẹp ý người.”

59. “Cũng vậy giữa quần sanh,

Uế nhiễm, mù, phàm tục,

Ðệ tử bậc Chánh Giác,

Sáng ngời với Tuệ Trí.”

Phẩm Ngu

60. “Ðêm dài cho kẻ thức,

Ðường dài cho kẻ mệt,

Luân hồi dài, kẻ ngu,

Không biết chơn diệu pháp.”

61. “Tìm không được bạn đường,

Hơn mình hay bằng mình,

Thà quyết sống một mình,

Không bè bạn kẻ ngu.”

62. “Con tôi, tài sản tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tự ta, ta không có,

Con đâu, tài sản đâu.”

63. “Người ngu nghĩ mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu.”

64. “Người ngu, dầu trọn đời,

Thân cận người có trí,

Không biết được Chánh pháp,

Như muỗng với vị canh.”

65. “Người trí, dầu một khắc,

Thân cận người có trí,

Biết ngay chân diệu pháp,

Như lưỡi với vị canh.”

66. “Người ngu si thiếu trí,

Tự ngã thành kẻ thù.

Làm các nghiệp không thiện,

Phải chịu quả đắng cay.”

67. “Nghiệp làm không chánh thiện,

Làm rồi sanh ăn năn,

Mặt nhuốm lệ, khóc than,

Lãnh chịu quả dị thục.”

68. “Và nghiệp làm chánh thiện,

Làm rồi không ăn năn,

Hoan hỷ, ý đẹp lòng,

Hưởng thọ quả dị thục.”

69. “Người ngu nghĩ là ngọt,

Khi ác chưa chín muồi;

Ác nghiệp chín muồi rồi,

Người ngu chịu khổ đau.”

70. “Tháng tháng với ngọn cỏ,

Người ngu có ăn uống

Không bằng phần mười sáu

Người hiểu pháp hữu vi.”

71. “Nghiệp ác đã được làm,

Như sữa, không đông ngay,

Cháy ngầm theo kẻ ngu,

Như lửa tro che đậy.”

72. “Tự nó chịu bất hạnh,

Khi danh đến kẻ ngu.

Vận may bị tổn hại,

Ðầu nó bị nát tan.”

73. “Ưa danh không tương xứng,

Muốn ngồi trước tỷ kheo,

Ưa quyền tại tịnh xá,

Muốn mọi người lễ kính.”

74. “Mong cả hai tăng, tục,

Nghĩ rằng (chính ta làm).

Trong mọi việc lớn nhỏ,

Phải theo mệnh lệnh ta ”

Người ngu nghĩ như vậy

Dục và mạn tăng trưởng.

75. “Khác thay duyên thế lợi,

Khác thay đường Niết Bàn.

Tỷ kheo, đệ tử Phật,

Hãy như vậy thắng tri.

Chớ ưa thích cung kính,

Hãy tu hạnh viễn ly.”

Phẩm Hiền Trí

76. “Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu.”

77. “Những người hay khuyên dạy,

Ngăn người khác làm ác,

Ðược người hiền kính yêu,

Bị người ác không thích.”

78. “Chớ thân với bạn ác,

Chớ thân kẻ tiểu nhân.

Hãy thân người bạn lành,

Hãy thân bậc thượng nhân.”

79. “Pháp hỷ đem an lạc,

Với tâm tư thuần tịnh;

Người trí thường hoan hỷ,

Với pháp bậc Thánh thuyết.”

80. “Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn gỗ,

Bậc trí nhiếp tự thân.”

81. “Như đá tảng kiên cố,

Không gió nào giao động,

Cũng vậy, giữa khen chê,

Người trí không giao động.”

82. “Như hồ nước sâu thẳm,

Trong sáng, không khuấy đục,

Cũng vậy, nghe chánh pháp,

Người trí hưởng tịnh lạc.”

83. “Người hiền bỏ tất cả,

Người lành không bàn dục,

Dầu cảm thọ lạc khổ,

Bậc trí không vui buồn.”

84. “Không vì mình, vì người.

Không cầu được con cái,

Không tài sản quốc độ,

Không cầu mình thành tựu,

Với việc làm phi pháp.

Vị ấy thật trì giới,

Có trí tuệ, đúng pháp.”

85. “Ít người giữa nhân loại,

Ðến được bờ bên kia

Còn số người còn lại,

Xuôi ngược chạy bờ này.”

86. “Những ai hành trì pháp,

Theo chánh pháp khéo dạy,

Sẽ đến bờ bên kia,

Vượt ma lực khó thoát.”

kinh-phap-cu-la-gi-va-kinh-phap-cu-co-bao-nhieu-bai-ke

87.Kẻ trí bỏ pháp đen,

Tu tập theo pháp trắng.

Bỏ nhà, sống không nhà,

Sống viễn ly khổ lạc.”

88. “Hãy cầu vui Niết Bàn,

Bỏ dục, không sở hữu,

Kẻ trí tự rửa sạch,

Cấu uế từ nội tâm.”

89. “Những ai với chánh tâm,

Khéo tu tập giác chi,

Từ bỏ mọi ái nhiễm,

Hoan hỷ không chấp thủ.

Không lậu hoặc, sáng chói,

Sống tịch tịnh ở đời.”

Phẩm A La Hán

90. “Ðích đã đến, không sầu,

Giải thoát ngoài tất cả,

Ðoạn trừ mọi buộc ràng,

Vị ấy không nhiệt não.”

91. “Tự sách tấn, chánh niệm,

Không thích cư xá nào,

Như ngỗng trời rời ao,

Bỏ sau mọi trú ẩn.”

92. “Tài sản không chất chứa,

Ăn uống biết liễu tri,

Tự tại trong hành xứ,

“Không vô tướng, giải thoát, ”

Như chim giữa hư không,

Hướng chúng đi khó tìm.”

93. “Ai lậu hoặc đoạn sạch,

Ăn uống không tham đắm,

Tự tại trong hành xứ,

“Không, vô tướng giải thoát. ”

Như chim giữa hư không,

Dấu chân thật khó tìm. ”

94. “Ai nhiếp phục các căn,

Như đánh xe điều ngự,

Mạn trừ, lậu hoặc dứt,

Người vậy, Chư Thiên mến.”

95. “Như đất, không hiềm hận,

Như cột trụ, kiên trì,

Như hồ, không bùn nhơ,

Không luân hồi, vị ấy.”

96. “Người tâm ý an tịnh,

Lời an, nghiệp cũng an,

Chánh trí, chơn giải thoát,

Tịnh lạc là vị ấy.”

97. “Không tin, hiểu vô vi.

Người cắt mọi hệ lụy

Cơ hội tận, xả ly

Vị ấy thật tối thượng.”

98. “Làng mạc hay rừng núi

Thung lũng hay đồi cao,

La Hán trú chỗ nào,

Ðất ấy thật khả ái “.

99. “Khả ái thay núi rừng,

Chỗ người phàm không ưa,

Vị ly tham ưa thích,

Vì không tìm dục lạc.”

Phẩm Ngàn

100. “Dầu nói ngàn ngàn lời,

Nhưng không gì lợi ích,

Tốt hơn một câu nghĩa,

Nghe xong, được tịnh lạc.”

101. “Dầu nói ngàn câu kệ

Nhưng không gì lợi ích,

Tốt hơn nói một câu,

Nghe xong, được tịnh lạc.”

102 “Dầu nói trăm câu kệ

Nhưng không gì lợi ích,

Tốt hơn một câu pháp,

Nghe xong, được tịnh lạc.”

103. “Dầu tại bãi chiến trường

Thắng ngàn ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng.”

104. “Tự thắng, tốt đẹp hơn,

Hơn chiến thắng người khác.

Người khéo điều phục mình,

Thường sống tự chế ngự.”

105. “Dầu Thiên Thần, Thát Bà,

Dầu Ma vương, Phạm Thiên

Không ai chiến thắng nổi,

Người tự thắng như vậy.”

106. “Tháng tháng bỏ ngàn vàng,

Tế tự cả trăm năm,

Chẳng bằng trong giây lát,

Cúng dường bậc tự tu.

Cùng dường vậy tốt hơn,

Hơn trăm năm tế tự.”

107. “Dầu trải một trăm năm,

Thờ lửa tại rừng sâu,

Chẳng bằng trong giây lát,

Cúng dường bậc tự tu.

Cúng dường vậy tốt hơn,

Hơn trăm năm tế tự.”

108. “Suốt năm cúng tế vật,

Ðể cầu phước ở đời.

Không bằng một phần tư

Kính lễ bậc chánh trực.”

109. “Thường tôn trọng, kính lễ

Bậc kỳ lão trưởng thượng,

Bốn pháp được tăng trưởng:

Thọ, sắc, lạc, sức mạnh.”

110.Dầu sống một trăm năm

Ác giới, không thiền định,

Tốt hơn sống một ngày,

Trì giới, tu thiền định.”

111. “Ai sống một trăm năm,

Ác tuệ, không thiền định.

Tốt hơn sống một ngày,

Có tuệ, tu thiền định.

112 “Ai sống một trăm năm,

Lười nhác không tinh tấn,

Tốt hơn sống một ngày

Tinh tấn tận sức mình.”

113. “Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp sinh diệt,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp sinh diệt.”

114. “Ai sống một trăm năm,

Không thấy câu bất tử,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được câu bất tử.”

115. “Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp tối thượng,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp tối thượng.”

Phẩm Ác

116. “Hãy gấp làm điều lành,

Ngăn tâm làm điều ác.

Ai chậm làm việc lành,

Ý ưa thích việc ác.”

117. “Nếu người làm điều ác,

Chớ tiếp tục làm thêm.

Chớ ước muốn điều ác,

Chứa ác, tất chịu khổ.”

118. “Nếu người làm điều thiện,

Nên tiếp tục làm thêm.

Hãy ước muốn điều thiện,

Chứa thiện, được an lạc.

119. “Người ác thấy là hiền.

Khi ác chưa chín muồi,

Khi ác nghiệp chín muồi,

Người ác mới thấy ác.”

120. “Người hiền thấy là ác,

Khi thiện chưa chín muồi.

Khi thiện được chín muồi,

Người hiền thấy là thiện.”

Quảng cáo
0 Bình luận

0 Bình luận

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo