Liên hệ với chúng tôi
Quảng cáo

Đạo

Tam Bảo là gì và ý nghĩa Ban Tam Bảo trong chùa Việt?

Chúng ta đi lễ chùa cầu tài lộc, bình an cho bản thân và gia đình nhưng không phải ai cũng hiểu hết được ý nghĩa của Ban Tam Bảo trong chùa.

Tam Bảo là gì và ý nghĩa Ban Tam Bảo trong chùa Việt?

Xuất bản:

LB
Tam Bảo là gì và ý nghĩa Ban Tam Bảo trong chùa Việt?
Photo: internet

Lễ chùa là một tục lệ từ xa xưa của người người phương Đông nói chung và của người dân Việt Nam nói riêng.  Vào các ngày lễ, tết, hội đình, người ta nô nức đi chùa, thứ nhất là bày tỏ lòng kính ngưỡng của mình tới các vị chư thần, thần tiên, thổ địa,.. Thứ hai, quan trọng và thiết thực hơn đó chính là cầu xin sự che chở, phù hộ cho những người thân trong gia đình. Cầu xin các vị thần ban phát tài lộc, sức khỏe. Đối với những người làm ăn xa hay kinh doanh buôn bán ai cũng mong một năm mới với bước khởi đầu mới thuận lợi và suôn sẻ. Thế nhưng, không phải ai cũng hiểu hết được ý nghĩa của Ban Tam Bảo trong chùa.

Tam Bảo là gì?

Tam Bảo hiểu theo nghĩa Hán Việt thì Tam là ba, Bảo là bảo vật. Tam bảo có nghĩa là ba bảo vật quý. Tuy nhiên nếu hiểu theo nghĩa Phật pháp thì điều này là "Tam bảo là chỗ về chỗ về nương tựa của muôn loài, là ngọn đèn phá tan mọi hắc ám, là con thuyền đưa chúng sinh qua thấu bờ bên kia”.

Tam Bảo là ba ngôi báu gồm Phật bảo, Pháp bảoTăng bảo. Trong nhân gian, người ta thường coi vật báu là lụa là gấm vóc ngọc ngà, những thứ có thể đem lại lợi ích, thỏa mãn lòng ham muốn. Thế nhưng trong Phật giáo, những thứ vật chất ấy lại thật tầm thường, bởi dù có bao nhiêu ngọc ngà vàng bạc cũng không thể giúp chúng sinh thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử.

Không thể vượt qua khỏi tam giới, tam đồ, lục đạo... Chỉ có ba ngôi báu của của Phật giáo mới đủ sức dẫn dắt những chúng sinh thoát khỏi những khổ đau ấy. Ba ngôi báu này giống như ngọn đèn sáng để chúng sinh tin và làm theo, từ đó thoát khỏi sự đau khổ, tìm được sự hoan hỉ.

y-nghia-ban-tam-bao-trong-chua-viet-1

Phật bảo

Phật là “ngôi báu thứ nhất” hay Phật bảo, vì Ngài là người tìm ra nguồn Đạo giải thoát, đã vượt ra khỏi vòng Sanh tử Luân hồi dứt Khổ trọn Vui,  là đấng giác ngộ đầu tiên, người đã tìm ra chân lý và phương pháp tu tập để hướng đến sự giải thoát, làm giảm nhẹ và xóa bỏ những khổ đau vốn có trong cuộc đời này. Chính từ ý nghĩa đó mà đức Thích-ca Mâu-ni được tôn xưng là Phật, bởi danh từ này vốn là do người Trung Hoa phiên âm từ tiếng Phạn là Buddha, có nghĩa là “bậc giác ngộ” cũng là Thầy cả Chư Thiên và Nhân Loại.

Pháp bảo

Chân lý giác ngộ và phương pháp tu tập do Phật truyền dạy được gọi là Pháp. Trong ý nghĩa đó, Pháp là phương tiện để chúng ta có thể thực hành theo đúng và đạt đến sự giác ngộ, đạt đến sự giải thoát giống như Phật. Pháp là những phương Lương diệu được nhiệm màu, có năng lực chữa trị Tâm bệnh Phiền não của chúng sanh trong Tam giới. Vì thế mà Pháp được tôn xưng là “ngôi báu thứ hai”, hay Pháp bảo.

Tăng bảo

Những người rời bỏ đời sống gia đình để dành trọn cuộc đời thực hành theo giáo pháp của đức Phật, hướng đến sự giải thoát, sự giác ngộ, được gọi là chư tăng. Các vị này cùng nhau tu tập trong một tập thể gọi là Tăng-già (do tiếng Phạn là Sangha) hay Tăng đoàn. Trong sự tu tập của tự thân mình, chư tăng cũng nêu gương sáng về việc làm đúng theo lời Phật dạy và truyền dạy những điều đó cho nhiều người khác nữa.vì các Ngài là người thay mặt ba đời chư Phật, có nhiệm vụ hướng dẫn, dắt dìu quần sanh thoát khỏi nẻo Tối, đường Mê, tu hành cho đến nơi dứt Khổ. Vì vậy, các ngài được tôn xưng là “ngôi báu thứ ba”, hay là Tăng bảo.

Ý nghĩa của Ban Tam Bảo 

Trong chính điện thờ Phật hay còn gọi là Phật điện, Đại hùng bảo điện, Ban Tam Bảo, triết lý vô thường của Phật giáo được đặt lên hàng đầu thể hiện qua tam thân Phật là “Pháp thân”, “Báo thân” và “Ứng thân”. Cách bài trí các tượng Phật ở chính điện theo đúng ý nghĩa ấy.

Lớp thứ nhất thờ “Pháp thân Phật”: Trên cùng là tượng Tam thế, tên đầy đủ là Tam thế tam thiên Phật nghĩa là ba nghìn vị Phật thời quá khứ, hiện tại, tương lai, trong đó Thiên (ngàn) là con số phiếm chỉ không đếm được.

Hàng tượng này gồm ba pho, thường có một dáng chung là ngồi kết già, sự khác nhau chỉ là các dáng tay kết ấn, bên trái là Quá khứ thế, bên phải là Vị lai thế, ở giữa là Hiện tại thế.

Lớp thứ hai thờ “Báo thân Phật”: Hàng tượng Di đà tam tôn mang tính chất tuyên ngôn cho Phật giáo bởi đại điện cho từ tâm và trí tuệ. Trong đó, Phật A Di Đà ở giữa thể hiện tám tính (bát đại), phân thân biểu hiện thành Quan thế âm Bồ tát bên trái (bốn tính thuộc từ tâm là đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả) và Đại thế chí Bồ tát bên phải (bốn tính thuộc trí tuệ là đại hùng, đại lực, đại trí, đại dũng).

- Phật A-di-đà (ngồi giữa). Phật A-di-đà được tạc trong tư thế toạ thiền, ngồi xếp bằng, hai tay đặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơi mỉm cười Phật được tạc to nhất trong các nhóm tượng tuỳ theo khuôn khổ từng chùa. Phật A Di Đà vị Phật của thế giới Tây phương cực lạc, nơi chỉ có vui mà không có khổ, tiếp dẫn người có công đức sang thế giới Tây phương cực lạc

- Bồ Tát Ðại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh đứng bên tay phải Ðức Phật A Di Ðà. Đây là vị hộ pháp giúp việc cứu độ cho Phật A Di Đà, giáo hóa chúng sinh, tích đức hành thiện, trừ gian diệt ác. Bồ Tát Ðại Thế Chí biểu trưng cho đức tinh tấn và ánh sáng trí tuệ, nhờ vào trí tuệ có năng lực như ngọn đèn sáng rực, soi rọi các tà vọng thiện ác, thấy được vực sâu của tội ác trong thế gian một cách rõ ràng.. Ngài còn có danh hiệu là Ðắc Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Lực Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Tinh Tấn Bồ Tát hay Vô Biên Quang Bồ Tát. Các danh hiệu của Bồ Tát Đại Thế Chí nói lên hạnh nguyện đại hùng, đại lực, đại tinh tấn và ánh sáng trí tuệ vô biên chiếu khắp mọi loài chúng sanh, có thể phá trừ vô minh, điều phục tham sân si, chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Các vị Bồ Tát đều có từ bi, trí tuệ và ý chí xuất phàm như nhau, đó là nhân để tiến đến Phật quả.

- Bồ Tát Quán Thế Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy đứng bên tay trái Đức phật A Di Đà. Quan Thế Âm bồ tát với một số sắc tướng và danh hiệu khác Quan Thế Âm vô uý, Quan Thế Âm Nam Hải, Quan Thế Âm nghìn mắt nghìn tay: là người luôn nghe tiếng kêu tha thiết từ tâm khảm chúng sinh trong trần gian mà tới cứu khổ. Mang lòng từ bi, nhân ái, vị tha và thánh thiện không phân biệt bất kỳ ai, nghĩa là người yêu thương tất cả chúng sanh trong thiên hạ.

Lớp thứ ba thờ “Ứng thân Phật”: Bộ tượng Thích ca liên hoa, với mô hình nhất Phật nhị tôn giả, Đức Thích Ca ngồi kết già ở giữa, tay giơ đóa sen, Ma Ha Ca Diếp bên trái, A Nan Đà bên phải.

Lớp thứ tư: Tượng Tuyết Sơn mô tả quá trình bảy năm tu khổ hạnh không tìm được chân lý của Đức Thích Ca. Tạo hình tượng khắc khổ, đầu nhô lên hình sọ, mắt trũng sâu, chân tay gầy guộc, hiện rõ các đốt xương. Các nếp quần áo đổ dồn xuống dưới, như tăng vẻ tiều tụy của tượng, nhưng vẫn nhận thấy sự suy tư thanh thản trong ánh mắt xa xăm và toàn thân tĩnh tại, ung dung.

y-nghia-ban-tam-bao-trong-chua-viet-2

Lớp thứ năm: Bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh, tuy có mô hình nhất Phật nhị Bồ tát nhưng ở mỗi chùa lại có sự khác nhau. Ở chùa Tây Phương, bộ tượng này có niên đại thời Tây Sơn với Phật Di lặc ngồi giữa, hai bên là Đại Diệu Tường Bồ tát và Pháp Hoa Lâm Bồ tát. Ở một số chùa khác thì hai bên là Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, khi thì trong hình tướng nữ, cưỡi mãnh thú (voi và sư tử), khi thì trong hình tướng tăng nhân như ở chùa Hòe Nhai (Hà Nội), khi là hai vị Bồ tát cầm hoa sen hay pháp khí như ở chùa Bà Đá.

Lớp thứ sáu: Tòa Cửu Long ở giữa, bên trái là Đế Thiên (Indra – Ngọc hoàng: vua của cõi trời sắc giới, cõi có hình tướng) và bên phải là Đế Thích (Brama: vua của cõi trời dục giới, cõi không còn hình tướng nhưng vẫn còn dục vọng, ham muốn). Tòa Cửu Long được xây dựng theo tích Thích Ca sơ sinh – một trong bốn tích quan trọng trong đời Phật (đản sinh, xuất gia, thành đạo và viên tịch). Trung tâm là Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh trong hình dạng chú bé nhưng vẻ mặt nghiêm trang, tay chỉ lên trời, tay chỉ xuống đất. Xung quanh có chín con rồng liên kết tạo thành một hình khum, hướng phía mặt ra ngoài, mô tả các tầng trời, trên đó có các vị Phật ngồi kết già, các vị Bồ tát, Kim Cương Hộ pháp...

Lễ vật cúng Ban Tam Bảo

Lễ vật khi mang đến các đình, chùa không cần quá cao sang, đắt đỏ hay số lượng phải nhiều, chủ yếu là tùy tâm, tùy hoàn cảnh người đến. Đi cúng lễ ở những nơi thờ Thần, Phật, chư vị bồ tát, thánh hiền, đức bà,... thì người đi hành lễ cần phải chú ý tới những điều sau khi sắm sửa lễ vật dâng lên các vị chư thần.

Lễ vật cúng Tam Bảo

- Khi đi dâng hương tại các chùa thì chỉ nên sắm toàn bộ là lễ chay như hương thơm, hoa tươi, quả theo mùa, phẩm oản, xôi chè,... Không nên sắm lễ mặn mang theo như: thịt luộc, gà, dò, chả,...

- Chỉ khi đi cúng Tam sinh hay những khu vực có thờ các vị Thánh Mẫu thì mới được dâng lễ mặn và chỉ có thể dâng ở những nới đó. Chú ý tuyệt không được dâng lễ mặn ở các khu vực chính thờ Phật (tức là nơi thờ chính của ngôi chùa).

- Trên hương án ở chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh.

- Lễ mặn như gà, chả, dò, rượu, trầu cau,.. chỉ được đặt tại ban thường hay những điện thờ được xây riêng của Đức Ông hay bất kỳ vị thánh nào đó có ý nghĩa to lớn với nơi thờ cúng.

- Khi dâng cúng Phật tại chùa không được sắm vàng mã, tiền âm phủ hay những thứ tương tự. Những lễ như này thì chỉ được đặt ở bàn thờ Đức Ông, Thần Linh hay Thánh Mẫu ở các điện bên cạnh.

Quảng cáo

- Cũng không nên đặt tiền thật nên ban thờ Phật ở điện chính diện, các ban khác thì có thể đặt, tốt hơn hết nên để vào hòm công đức.

Hạ lễ sau khi cúng Tam Ban

Sau khi kết thúc khấn lễ thì có thể thắp thêm một tuần hương nữa, khấn 3 vái tại khắp các ban rồi mới hạ lễ xuống, thường những nơi hóa sớ sẽ được đặt ở sân chùa.

Khi hạ lễ chú ý nên hạ từ ban ngoài cùng lần lượt cho tới ban chính.

Thứ tự hành lễ ở chùa

-Đặt lễ vật: phải đặt ở ban thờ Đức Ông trước.

-Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông mới đặt lễ ở các chính điện, thắp nhang đèn.

-Sau đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác, chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

-Cuối cùng lễ ở nhà thờ Tổ.

y-nghia-ban-tam-bao-trong-chua-viet-3

Văn khấn ban Tam Bảo

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm .....

Tín chủ (chúng) con là: .......................

Ngụ tại: ......................

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

- Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

- Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta Bà.

- Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

- Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

- Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ...................... (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai qua nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khỏe, trên dưới thuận hòa an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Xem thêm: Giải mã bí ẩn bàn cầu cơ dưới góc nhìn khoa học

Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo