4 bài viết mẫu dành cho tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa"

"Chiếc thuyền ngoài xa" là tác phẩm có trong đề thi tốt nghiệp THPT 2022. Tuy nhiên, các bạn cũng đừng chủ quan, nhớ ôn thi đầy đủ nhé!

Đỗ Thu Nga
16:00 29/03/2024 Đỗ Thu Nga
Sống Đẹp
Nguồn: Internet

"Chiếc thuyền ngoài xa” ra đời ba năm trước thời điểm 1986 - mốc mà bất cứ một nhà văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là năm khai sinh và tái sinh con đường nghệ thuật của mình, ít nhất là về tư thế cầm bút, họ được tự do.

Dưới đây là một số bài viết mẫu dành cho tác phẩm này:

01. PHÂN TÍCH NHÂN VẬT PHÙNG

Đề bài:

Phân tích nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.

Bài làm:

Có một nhà văn đã từng nói: “Cái đẹp chính là liều thuốc giúp trái tim của người nghệ sĩ thăng hoa hơn. Cái đẹp thanh lọc tâm hồn con người, cái đẹp khiến cho người ta trở nên thánh thiện và cao thượng hơn”. Tôi vẫn còn nhớ nhân vật Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) đã từng xúc động, bối rối như thế nào khi khám phá ra một vẻ đẹp toàn bích lúc ngắm nhìn bức tranh chiếc thuyền mờ ảo trong sương khói. Nhân vật Phùng cũng từ bức tranh toàn bích này khám phá ra muôn màu, muôn vẻ của cuộc sống đời thường. Và nhân vật này, cũng đã giúp cho nhà văn Nguyễn Minh Châu thể hiện được tư tưởng, triết lý nhân văn sâu sắc về vẻ đẹp con người, vẻ đẹp nghệ thuật, vẻ đẹp cuộc đời.

Được coi là "người mở đường tinh anh và tài năng nhất"( Nguyên Hồng), Nguyễn Minh Châu- cây bút tiên phong của văn học Việt nam thời kỳ đổi mới đã có nhiều tác phẩm ấn tượng. Một trong những tác phẩm thành công của ông là "Chiếc thuyền ngoài xa". Truyện ngắn được sáng tác năm 1983 đến năm 1987 in trong truyện ngắn cùng tên. Truyện ngắn tiêu biểu cho cảm hứng đời tư thế sự, tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học thời kì đổi mới. truyện ngắn có một tình huống truyện hết sức độc đáo. Tình huống ấy được thể hiện qua nhãn quan của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Nhân vật này được coi là nhân vật thể hiện triết lý cũng như quan điểm của tác giả, là phương tiện để tác giả mang suy nghĩ của mình đưa đến cho người đọc.

Nhân vật Phùng được khám phá ở vẻ đẹp của 1 người lính và của 1 người nghệ sĩ. Đó là con người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, mang trong mình tình yêu cái đẹp mãnh liệt. Đồng thời anh cũng là một con người nhân hậu, giàu trách nhiệm với cuộc đời. Phùng là nghệ sĩ nhiếp ảnh, theo yêu cầu của trưởng phòng, anh tới một vùng biển từng là chiến trường xưa của anh để chụp những bức ảnh cho tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển. Tại đây anh đã nhận thức được nhiều điều. Cảm xúc của nhân vật này qua những phát hiện của mình đã thể hiện nội tâm cũng như suy nghĩ của anh, giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp nơi con người này.

Trước hết, anh là một nghệ sĩ chân chính, nhạy cảm và có tình yêu cái đẹp mãnh liệt. Điều đó được thể hiện qua tâm hồn tinh tế với những rung cảm rất mãnh liệt, luôn khao khát tìm kiếm cái đẹp hoàn mỹ. Anh sẵn sàng bỏ ra hàng tuần để săn lùng bức ảnh đẹp. Nhờ vậy mà sau mấy buổi sáng "phục kích", anh đã chụp được "cảnh đắt trời cho". Đó là cảnh ban mai vùng ven biển, với "mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào". Với tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đắm say, ca tụng cảnh đẹp như "bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ". Rồi anh cảm thấy tràn ngập niềm hạnh phúc"bối rối, trái tim như có gì đó bóp thắt vào". Anh thấy được cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân- thiện- mỹ của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trở nên trong trẻo và thanh khiết. Từ đó, anh nhận thức "bản thân cái đẹp là đạo đức". Bằng con mắt và tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đã đưa đến cho người đọc một quan niệm về cái đẹp. Đó chính là cái đẹp là phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái hoàn mỹ.

Phẩm chất nghệ sĩ của Phùng thể hiện qua cách anh cảm nhận sâu sắc về cuộc sống và con người. Phùng đã phát hiện ra sự đối lập trong bức tranh miền biển: Phát hiện thứ nhất đầy vẻ thơ mộng. Anh cảm nhận được vẻ đẹp mơ màng, huyền ảo của thiên nhiên vùng biển, đặc biệt là hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa trên biển sớm mờ sương. Từ góc độ của một người nghệ sĩ nhiếp ảnh, Phùng hài lòng với những gì mình đã kịp ghi lại trong ống kính. Bức ảnh ấy là sáng tạo, là công sức của một đời nghệ sĩ, là khoảnh khắc bùng phát của niềm đam mê nghệ thuật. Phát hiện thứ hai đầy nghịch lí khi con thuyền tiến vào bờ. Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến một sự thật nghiệt ngã, sự bạo hành gia đình. Người chồng đánh đập vợ một cách dã man, vừa đánh vừa chửi "mày chết đi cho ông nhờ", "chúng mày chết đi cho ông nhờ". Người vợ thì cam chịu trận đòn, không hề phản kháng lại. Đứa con thương mẹ, xông vào đánh lại bố thì bị ăn hai cái tát. Một cảnh bạo lực gia đình diễn ra ngay trước mắt Phùng. Nó hoàn toàn trái ngược với cảnh đẹp thơ mộng nơi đây. Mặc dù khám phá ra những đối lập song Phòng không quay lưng lại với sự thật cho dù nó phũ phàng, trần trụi. Anh đã hai lần chứng kiến cảnh người đàn ông đánh đập vợ một cách tàn nhẫn và trực tiếp nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện, từ đó dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn của Phùng về nghệ thuật và cuộc đời: từ mơ mộng, bay bổng đến sững sờ, vỡ lẽ, từ thương hại, bất bình đến cảm thông, thấu hiểu. Đó cũng là quá trình đi tìm bản chất nghệ thuật và cuộc sống của người nghệ sĩ.

Không chỉ là người có tâm hồn nghệ sĩ, nhân vật Phùng còn là một người lính với tấm lòng nhân hậu, cao đẹp. Anh là chiến sĩ từng tham gia kháng chiến chống Mỹ, luôn tôn trọng lẽ phải và sự công bằng xã hội. Hai lần chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ, Phùng xông vào can thiệp, chân thành muốn giúp đỡ người đàn bà đáng thương, dũng cảm bênh vực những phận người khốn khổ, mở rộng hồn mình để lắng nghe “những vang động của đời”. Với anh - một người đã trải qua bao nhiêu khó khăn, vượt qua thời kỳ khó khăn của chiến tranh, anh không thể để cảnh bạo hành này tiếp tục diễn ra. Anh đã nói chuyện này với chánh án Đẩu- bạn của anh. Anh mong muốn mình có thể giúp gì được cho người đàn bà nghèo khổ kia. Quả là một người chính nghĩa, luôn đứng về lẽ phải, muốn bảo vệ lẽ phải và phê phán tố giác những điều xấu, điều ác.

4-bai-viet-mau-danh-cho-tac-pham-chiec-thuyen-ngoai-xa-7

Ngoài ra, nhân vật Phùng còn là người chịu thay đổi suy nghĩ cho phù hợp với hoàn cảnh, không bảo thủ, chấp nhận những cái sai của mình. Ngay từ ban đầu, khi chụp được "cảnh đắt trời cho", anh đã cho rằng cái đẹp là đạo đức, có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Nhưng khi chứng kiến cảnh bạo hành bên chiếc xe tăng hỏng cùng với những tâm sự của người đàn bà hàng chài, anh đã nhận ra những điều mới. Anh nhận thức được là phải nhìn nhận mọi việc một cách toàn diện Triết lý mà Phùng nhận ra cũng chính là thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm. Nghệ thuật không chỉ bắt nguồn từ cuộc sống mà phải gắn liền với cuộc sống.

Xuất thân từ một người lính bước ra từ chiến tranh, Phùng đã có quá trình tự nhận thức về cuộc đời: đằng sau câu chuyện của gia đình hàng chài là cả một vấn đề nhân sinh và để nhận ra được điều đó cần phải có cái nhìn đa chiều, sâu sắc. Nhân vật Phùng thuộc kiểu nhân vật tự nhận thức. Anh hội tự trong mình vẻ đẹp của một người nghệ sĩ chân chính và vẻ đẹp của một người lính có tấm lòng nhân hậu. Nguyễn Minh Châu đã khắc họa thành công nhân vật này trong một tình huống đầy nghịch lý với điểm nhìn trần thuật độc đáo. Câu chuyện được kể dưới cái nhìn của Phùng nên càng gần gũi, chân thực và sâu sắc hơn.

Xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn, mang ý nghĩa phát hiện về đời sống. Tác giả đã tạo ra nhiều tình huống như thế vừa nối tiếp nhau trong mạch truyện, lại vừa đột ngột, bất ngờ giúp người đọc nhận ra bản chất của sự việc một cách thú vị, thấm thía để hiểu sâu sắc chủ đề của tác phẩm. Các tình huống truyện cứ thế nối tiếp nhau và được Nguyễn Minh Châu đẩy lên cao trào, ngày càng xoáy sâu hơn để phát hiện, khám phá tính cách con người và sự thật cuộc đời. Nghệ thuật kể chuyện sinh động: người kể chuyện là Phùng. Quan đó tác giả đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống của tình huống truyện, lời kể trở nên khách quan, chân thực, giàu tính thuyết phục. Những thay đổi trong nhận thức của nhân vật Phùng là bước ngoặt quan trọng giúp nhà văn Nguyễn Minh Châu truyền tải thông điệp của mình. Thêm vào đó, đây cũng chính là sự củng cố cho bản thân nhà văn với tư duy văn học đầy mới mẻ của mình: “Văn học và đời sống là những đường tròn đồng tâm và tâm điểm chính là con người".

02. HAI PHÁT HIỆN NGHỆ THUẬT CỦA NGHỆ SĨ PHÙNG

Đề bài:

Trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, nhà văn đã tô đậm hai phát hiện nghệ thuật của nghệ sĩ Phùng. Hãy phân tích hai phát hiện trên, từ đó nhận xét về quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.

Bài làm:

Người nghệ sĩ tài hoa Nguyễn Minh Châu đã từng tâm niệm thế này: “Không có một thứ nghề nào mà kết quả công việc lại có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề viết văn”. Quả thực, sứ mệnh của người cầm bút không phải chỉ là viết mà hơn cả qua mỗi trang viết người nghệ sĩ còn cần ôm vào lòng mình cuộc sống, con người của hiện thực. Và có lẽ, với “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã tô đậm lên cái “chân giá trị” ấy, những sự thực, chân xác của cuộc sống hiện lên thật rõ nét. Qua hai phát hiện của nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật của mình, mối quan hệ giữa cuộc đời với nghệ thuật, giữa người nghệ sĩ và nhân dân.

Nguyễn Minh Châu - một trong số “những nhà văn mở đường tài hoa và tinh anh nhất”, người nghệ sĩ ấy luôn trăn trở về sứ mệnh của một nhà văn, mang trong mình một khát khao tìm kiếm “những hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người”, để nâng đỡ và yêu thương con người nhiều hơn. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được sáng tác năm 1983, khi đất nước ta bắt đầu bước vào thời kì độc lập. Thế nhưng, cuộc sống thời bình với biết bao nhiêu vấn đề cần đặt ra. Đằng sau cái vẻ đẹp lộng lẫy của một đất nước bước vào hòa bình ấy là cuộc sống con người còn nhiều khó khăn, gian khổ. Chính vì vậy, tác phẩm vừa là hồi chuông cảnh báo đồng thời mở đường cho cảm hứng đời tư thế sự, một xu hướng chung cho văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Khi gấp lại những trang văn của “Chiếc thuyền ngoài xa” người đọc không thể nào quên được hai hình ảnh đối lập của cảnh đẹp nơi bờ biển sương sớm và bức tranh hiện thực của người dân làng chài nghèo khổ. Đến với vùng đất biển ấy, nhiếp ảnh gia Phùng đã từng rất say mê với cảnh đẹp sớm mai. Thế nhưng, có lẽ bài học nghệ thuật đẹp nhất mà người nghệ sĩ ấy nhận được chính là cách nhìn nhận cuộc sống, nhìn nhận những góc khuất mà con người vẫn thường hay bỏ lỡ. Nguyễn Minh Châu đã rất khéo léo khi lồng ghép hai phát hiện của nhân vật Phùng ấy để từ đó thể hiện được những quan điểm nghệ thuật của mình.

Bước chân vào câu chuyện của Nguyễn Minh Châu, hiện lên ngay trước mắt người đọc chính là bức tranh tuyệt đẹp bên bờ biển sớm mai. Không bằng quá nhiều câu từ, ngôn ngữ cũng đủ để nhà văn đưa người đọc hòa vào cảm xúc của nhân vật Phùng. Theo yêu cầu của trưởng phòng, để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển, Phùng đã quay trở lại vùng biển nơi từng là chiến trường cũ của anh. Tại đây, người nghệ sĩ như gặp được chân lý của nghệ thuật, một vẻ đẹp toàn bích của thiên nhiên. Trước cái đẹp, có người nghệ sĩ nào mà không rung động, mà không say mê. Trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng của buổi sương sớm mai, hiện lên trước mắt người nghệ sĩ ngay lúc này chính là một bức tranh thiên nhiên hoàn mỹ với cảnh chiếc thuyền ngoài xa thấp thoáng, ẩn hiện trong biển sớm mờ sương “thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Và bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ.” Người nghệ sĩ Phùng đã trực chờ ở bờ biển suốt mấy hôm chỉ để chờ đợi cảnh đẹp này, ngay lúc này, còn gì hạnh phúc hơn khi chính anh đã tìm ra được cảnh đẹp ấy. Phùng cảm thấy trước mặt mình là “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, tạo nên “một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Đứng trước khung cảnh đấy, anh xúc động “bối rối” và trái tim của anh “như có cái gì bóp thắt vào”. Quả thực, đứng trước cái đẹp người nghệ sĩ nào cũng nhạy cảm và bồi hồi như vậy đấy. Ngay lúc đó, anh “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đứng trước cảnh đẹp mà tưởng chừng như chẳng bao giờ anh có thể chạm tới ấy, Phùng hạnh phúc vô cùng, anh bấm “liên thanh một hồi hết một phần tư cuộn phim”. Trong khoảnh khắc ấy anh mới thấm thía “bản thân trong cái đẹp chính là đạo đức”.

Nguyễn Minh Châu tài thật, không bằng quá nhiều câu từ, ngôn ngữ nhưng cũng đủ để người đọc hòa vào từng cảm xúc của nhân vật, hòa vào cảnh đẹp của biển trong buổi sớm sương mai. Phải chăng ngay lúc này, người đọc cũng đang mang trong mình những suy nghĩ của Phùng, cho rằng vẻ đẹp ngay trước mắt là vẻ đẹp toàn bích nhất. Quả thực, cảnh đẹp đó chính là nghệ thuật đấy, từng ánh sáng, từng con thuyền, từng hạt cát bên bờ biển ấy chính là nghệ thuật đấy, nhưng nó không phải là nghệ thuật trọn vẹn. Cảnh đẹp ấy chính là minh chứng cho một cuộc sống hòa bình, cho một đất nước hòa bình, nhưng nơi mà nghệ thuật hướng đến chính là con người, vậy mà con người hiện lên trong bức tranh đó không hề rõ nét. Không những vậy, vẻ đẹp toàn bích trong mắt Phùng ấy cũng chỉ đang thu gọn vào trong một bức hình thôi sao. Phùng quên mất rằng, nơi anh đang đứng chẳng phải là Lầu Hoàng Lạc hay chốn Bồng Lai, nơi anh đứng chính là chiến trường cũ, nơi đây còn đầy những tàn tích với bao xác xe tăng, xe rà phá mìn. Ngay cả việc anh ngồi bấm máy cũng là phải “rúc vào bên bánh xích của một chiếc xe tăng để tránh mưa”. Ngay lúc này, trong quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ chính là quan niệm về nghệ thuật vị nghệ thuật mà thôi.

Nguyễn Văn Siêu đã từng nói: “Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người.”, đúng là như vậy, chỉ khi hướng đến con người, Nguyễn Minh Châu mới thực sự hoàn thành được sứ mệnh của bút của chính mình. Khép lại bức tranh thiên nhiên cảnh biển trong buổi sương sớm, cũng là lúc con người hiện ra. Và chính trong phát hiện thứ hai này mới thực sự là phát hiện của nghệ thuật trọn vẹn. Ngay lúc này, trong vẻ đẹp toàn mĩ ấy, hiện thực cuộc sống con người hiện lên thật tàn khốc, trước mắt người nghệ sĩ là cảnh bạo lực trong gia đình hàng chài - một sự thật tàn nhẫn trong góc khuất cuộc sống của những con người nghèo khổ. Cái bóng lưng ngồi im phăng phắc mà Phùng nhìn thấy trước đó bước ra, mang theo biết bao nhiêu gánh nặng, khổ cực. Một người đàn bà cao lớn, xấu xí, thô kệch với tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới xuất hiện. Ôi, cớ sao giữa bức tranh thiên nhiên tuyệt bích ấy, con người lại hiện lên đầy đáng thương như vậy. Và rồi ngay sau đó, một người đàn ông cao lớn, với tấm lưng rộng, đi chân chữ bát, hai con mắt đầy vẻ giận dữ. Có lẽ, ngay khi đọc đến đây, ai trong chúng ta cũng sẽ tự đặt câu hỏi: “Rốt cuộc họ đã phải trải qua một cuộc sống như thế nào chứ? Chẳng phải đất nước đã hòa bình rồi sao?”. Ngay sau đó, người chồng hùng hổ rút chiếc thắt lưng, “chẳng nói chẳng rằng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, thế nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên hơn cả chính là hành động của người vợ, bà ta không hề có chút phản ứng nào, không kêu lên một tiếng cũng chẳng chống trả hay tìm cách chạy trốn. Lão nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn:“Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ!”. Mày và chúng mày mà lão nói đến là vợ con của lão.

Chẳng phải ngay vừa phút giây trước thôi, khung cảnh yên bình tuyệt mĩ mà Phùng cho là toàn bích ấy sao, nhưng không, chỉ khi con người xuất hiện, đó mới thực sự là cuộc sống. Chứng kiến cảnh đó Phùng vô cùng kinh ngạc, “đứng há mồm ra mà nhìn”. Khi anh định vứt chiếc máy ảnh xuống mà chạy đến cũng là lúc thằng Phác xuất hiện, nó “như một viên đạn lao tới đích đã nhắm” lao thẳng vào người đàn ông. Nó giằng chiếc thắt lưng quật vào giữa ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen loăn xoăn của người đàn ông. Ngay sau đó, hắn dang thẳng cánh tay tát thằng bé hai phát khiến nó ngã dúi xuống cát. “Phác, con ơi!”, ngay sao đó là tiếng gọi xé lòng của người mẹ, bà ta ôm chầm lấy thằng bé, rồi buông ra chắp tay vái lấy vái để thật sự để lại quá nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Và rồi thằng bé “lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ” để lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt. Có lẽ, chính ngay lúc này đây, người nghệ sĩ Phùng mới thực sự nhận ra, đây mới chính là cuộc sống đằng sau bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ ấy.

Tất cả những sự việc ấy cứ nối tiếp diễn ra trước mắt mà Phùng không thể làm gì khác được. Nhưng cũng chính hiện thức ấy mới giúp Phùng vỡ lẽ ra được hiện thực cuộc sống không phải chỉ luôn toàn màu hồng, cảnh sắc thiên nhiên đẹp thật đấy nhưng nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống hạnh phúc để tận hưởng trọn vẹn khung cảnh ấy. Cuộc sống của gia đình hàng chài hiện lên đầy bất hạnh, khó khăn trái ngược hoàn toàn với vẻ đẹp toàn bích, bình yên trong bức ảnh của người nghệ sĩ Phùng. Nguyễn Minh Châu đã từng nói: “Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực.” Đất nước đã bước vào hòa bình, nhưng sự thật là con người chưa được ấm no. Ở đây, Nguyễn Minh Châu đã hoàn thành tốt sứ mệnh của mình, cất tiếng “bênh vực cho những người không có ai để bênh vực”. Nghệ thuật vốn bắt đầu từ cuộc đời nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng đẹp như nghệ thuật. Cuộc sống có rất nhiều những ngang trái, nghịch lí, người nghệ sĩ muốn thực sự khám phá cái vẻ đẹp toàn bích ấy thì cần có cái nhìn đa chiều, đừng chỉ nhìn cuộc sống dưới góc nhìn của một khung hình chữ nhật, hãy biết sống thực với nó, hãy hiểu chứ đừng chỉ biết. Câu chuyện của người nghệ sĩ Phùng cũng là câu chuyện của biết bao người nghệ sĩ khác. Đọc xong câu chuyện, tự nhìn lại bản thân tự hỏi, liệu mình có thật sự hiểu được thế nào là cái đẹp tuyệt bích của cuộc đời hay chưa?

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng lên sự đối lập giữa vẻ đẹp của thiên nhiên cảnh biển sương sớm với tấn bi kịch cuộc sống của người dân làng chài nghèo khổ. Chính ở đó, Nguyễn Minh Châu đã tô đậm quan điểm nghệ thuật của mình. “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu) Quả thực, bức tranh cảnh biển sương sớm đẹp thật đấy, nhưng nó không thật sự trọn vẹn, con người hiện lên trong đó quá mờ nhạt. Nghệ thuật chỉ là nghệ thuật khi nó hướng đến con người, phải thể hiện được bản chất sâu xa, sự thật ẩn sâu trong cuộc sống. Nguyễn Minh Châu đã từng khẳng định: “Nhà văn không có quyền nhìn sự thật một cách đơn giản, nhà văn cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử.” Nó đã trở thành thiên chức, thành sứ mệnh của người nghệ sĩ. Nghệ thuật chỉ thực sự là nghệ thuật khi nó khai thác ở cuộc sống với cái nhìn đa chiều, nhìn nhận cuộc đời ở bình diện đạo đức, thế sự để thực sự hiểu bản chất bên trong của hiện thực. Nghệ thuật ở đây không chỉ là nghệ thuật vị nghệ thuật mà đó phải là nghệ thuật vị nhân sinh. Không chỉ vậy, nhà văn cần viết về “những vùng tối của hiện thực đời sống để góp phần hoàn thiện nhân cách làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn”. Hiện thực cuộc sống thực sự rất nhiều trái ngang, nhưng không phải người nghệ sĩ nào cũng dám cầm bút về vẽ nó lên trong những trang văn của mình. Chính vì vậy, người nghệ sĩ cần có lòng dũng cảm, chân thực, một trái tim nhân hậu để “nâng niu những cái đẹp ở đời”, để “bênh vực cho những người không có ai để bênh vực”. Nhà văn phải tự ý thức cho chính mình hoàn thiện hơn, cho văn chương sâu sắc hơn để phục vụ con người, hướng đến con người. Có lẽ, trong thời kì ấy, chúng ta chưa từng bắt gặp bất cứ người nghệ sĩ nào mang màu sắc quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Chính những điều mới mẻ ấy, những đóng góp ấy trong công cuộc đổi mới văn học mà trước hết là về quan niệm nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “người mở đường tinh anh và tài năng” của nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Có thể thấy ngay từ trong cách đặt tên nhan đề Nguyễn Minh Châu đễ phần nào bộc lộ ra quan điểm nghệ thuật của mình. Tại sao lại là “ngoài xa”? Khi ở xa, người nghệ sĩ không thể nào thấy được hết những mảng tối, những góc khuất trong cuộc sống của con người. Đó chỉ là những bóng lưng ngồi im phăng phắc. Nghệ thuật chỉ thật sự là nghệ thuật khi nó ôm trọn vào lòng con người, hiện thức cuộc sống, nâng niu những giá trị tốt đẹp của con người. Chỉ khi người nghệ sĩ thực sự sống cuộc sống, thực sự hiểu con người thì nghệ thuật mà họ tạo ra mới có giá trị đích thực, góp phần cải tạo cuộc sống, nâng cao giá trị của con người.

Sứ mệnh của nhà văn được Nguyễn Minh Châu hoàn thiện một cách thật trọn vẹn. Một hiện thực cuộc sống đen tối sau thời bình của nhân dân ta hiện lên rõ hơn bao giờ hết, một góc nhìn mới mẻ, một bài học mới về nghệ thuật cho những người nghệ sĩ, tất cả bắt đầu từ cuộc đời, từ con người, phục vụ con người, hướng đến con người và vì con người. Chính những điều đó đã kết tinh lại thành một nguồn sức mạnh kì diệu, một sức sống mãnh liệt cho tác phẩm trong dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, đúng như lời nhận định: “Văn học nằm ngoài mọi sự băng hoại, mình nó không chấp nhận quy luật của cái chết".

03. CHÂN LÝ NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN MINH CHÂU TRONG "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA"

Đề bài:

Nhận thức về chân lí nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Bài làm:

Người nghệ sĩ tài hoa Nguyễn Minh Châu đã từng tâm niệm thế này: “Không có một thứ nghề nào mà kết quả công việc lại có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề viết văn”. Quả thực, sứ mệnh của người cầm bút không phải chỉ là viết mà hơn cả qua mỗi trang viết người nghệ sĩ còn cần ôm vào lòng mình cuộc sống, con người của hiện thực. Và có lẽ, với “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã tô đậm lên cái “chân giá trị” ấy, những sự thực, chân xác của cuộc sống hiện lên thật rõ nét. Qua hai phát hiện của nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện rõ nhận thức về chân lí nghệ thuật của mình, mối quan hệ giữa cuộc đời với nghệ thuật, giữa người nghệ sĩ và nhân dân.

Nguyễn Minh Châu - một trong số “những nhà văn mở đường tài hoa và tinh anh nhất”, người nghệ sĩ ấy luôn trăn trở về sứ mệnh của một nhà văn, mang trong mình một khát khao tìm kiếm “những hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người”, để nâng đỡ và yêu thương con người nhiều hơn. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được sáng tác năm 1983, khi đất nước ta bắt đầu bước vào thời kì độc lập. Thế nhưng, cuộc sống thời bình với biết bao nhiêu vấn đề cần đặt ra. Đằng sau cái vẻ đẹp lộng lẫy của một đất nước bước vào hòa bình ấy là cuộc sống con người còn nhiều khó khăn, gian khổ. Chính vì vậy, tác phẩm vừa là hồi chuông cảnh báo đồng thời mở đường cho cảm hứng đời tư thế sự, một xu hướng chung cho văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Khi gấp lại những trang văn của “Chiếc thuyền ngoài xa” người đọc không thể nào quên được hai hình ảnh đối lập của cảnh đẹp nơi bờ biển sương sớm và bức tranh hiện thực của người dân làng chài nghèo khổ. Đến với vùng đất biển ấy, nhiếp ảnh gia Phùng đã từng rất say mê với cảnh đẹp sớm mai. Thế nhưng, có lẽ bài học nghệ thuật đẹp nhất mà người nghệ sĩ ấy nhận được chính là cách nhìn nhận cuộc sống, nhìn nhận những góc khuất mà con người vẫn thường hay bỏ lỡ. Nguyễn Minh Châu đã rất khéo léo khi lồng ghép hai phát hiện của nhân vật Phùng ấy để từ đó thể hiện được những quan điểm nghệ thuật của mình.

Bước chân vào câu chuyện của Nguyễn Minh Châu, hiện lên ngay trước mắt người đọc chính là bức tranh tuyệt đẹp bên bờ biển sớm mai. Không bằng quá nhiều câu từ, ngôn ngữ cũng đủ để nhà văn đưa người đọc hòa vào cảm xúc của nhân vật Phùng. Theo yêu cầu của trưởng phòng, để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển, Phùng đã quay trở lại vùng biển nơi từng là chiến trường cũ của anh. Tại đây, người nghệ sĩ như gặp được chân lý của nghệ thuật, một vẻ đẹp toàn bích của thiên nhiên. Trước cái đẹp, có người nghệ sĩ nào mà không rung động, mà không say mê. Trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng của buổi sương sớm mai, hiện lên trước mắt người nghệ sĩ ngay lúc này chính là một bức tranh thiên nhiên hoàn mỹ với cảnh chiếc thuyền ngoài xa thấp thoáng, ẩn hiện trong biển sớm mờ sương “thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Và bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Người nghệ sĩ Phùng đã trực chờ ở bờ biển suốt mấy hôm chỉ để chờ đợi cảnh đẹp này, ngay lúc này, còn gì hạnh phúc hơn khi chính anh đã tìm ra được cảnh đẹp ấy. Phùng cảm thấy trước mặt mình là “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, tạo nên “một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Đứng trước khung cảnh đấy, anh xúc động “bối rối” và trái tim của anh “như có cái gì bóp thắt vào”. Quả thực, đứng trước cái đẹp người nghệ sĩ nào cũng nhạy cảm và bồi hồi như vậy đấy. Ngay lúc đó, anh “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đứng trước cảnh đẹp mà tưởng chừng như chẳng bao giờ anh có thể chạm tới ấy, Phùng hạnh phúc vô cùng, anh bấm “liên thanh một hồi hết một phần tư cuộn phim”. Trong khoảnh khắc ấy anh mới thấm thía “bản thân trong cái đẹp chính là đạo đức”.

Nguyễn Minh Châu tài thật, không bằng quá nhiều câu từ, ngôn ngữ nhưng cũng đủ để người đọc hòa vào từng cảm xúc của nhân vật, hòa vào cảnh đẹp của biển trong buổi sớm sương mai. Phải chăng ngay lúc này, người đọc cũng đang mang trong mình những suy nghĩ của Phùng, cho rằng vẻ đẹp ngay trước mắt là vẻ đẹp toàn bích nhất. Quả thực, cảnh đẹp đó chính là nghệ thuật đấy, từng ánh sáng, từng con thuyền, từng hạt cát bên bờ biển ấy chính là nghệ thuật đấy, nhưng nó không phải là nghệ thuật trọn vẹn. Cảnh đẹp ấy chính là minh chứng cho một cuộc sống hòa bình, cho một đất nước hòa bình, nhưng nơi mà nghệ thuật hướng đến chính là con người, vậy mà con người hiện lên trong bức tranh đó không hề rõ nét. Không những vậy, vẻ đẹp toàn bích trong mắt Phùng ấy cũng chỉ đang thu gọn vào trong một bức hình thôi sao. Phùng quên mất rằng, nơi anh đang đứng chẳng phải là Lầu Hoàng Lạc hay chốn Bồng Lai, nơi anh đứng chính là chiến trường cũ, nơi đây còn đầy những tàn tích với bao xác xe tăng, xe rà phá mìn. Ngay cả việc anh ngồi bấm máy cũng là phải “rúc vào bên bánh xích của một chiếc xe tăng để tránh mưa”. Ngay lúc này, trong quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ chính là quan niệm về nghệ thuật vị nghệ thuật mà thôi.

Nguyễn Văn Siêu đã từng nói: “Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người.”, đúng là như vậy, chỉ khi hướng đến con người, Nguyễn Minh Châu mới thực sự hoàn thành được sứ mệnh của bút của chính mình. Khép lại bức tranh thiên nhiên cảnh biển trong buổi sương sớm, cũng là lúc con người hiện ra. Và chính trong phát hiện thứ hai này mới thực sự là phát hiện của nghệ thuật trọn vẹn. Ngay lúc này, trong vẻ đẹp toàn mĩ ấy, hiện thực cuộc sống con người hiện lên thật tàn khốc, trước mắt người nghệ sĩ là cảnh bạo lực trong gia đình hàng chài - một sự thật tàn nhẫn trong góc khuất cuộc sống của những con người nghèo khổ. Cái bóng lưng ngồi im phăng phắc mà Phùng nhìn thấy trước đó bước ra, mang theo biết bao nhiêu gánh nặng, khổ cực. Một người đàn bà cao lớn, xấu xí, thô kệch với tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới xuất hiện. Ôi, cớ sao giữa bức tranh thiên nhiên tuyệt bích ấy, con người lại hiện lên đầy đáng thương như vậy. Và rồi ngay sau đó, một người đàn ông cao lớn, với tấm lưng rộng, đi chân chữ bát, hai con mắt đầy vẻ giận dữ. Có lẽ, ngay khi đọc đến đây, ai trong chúng ta cũng sẽ tự đặt câu hỏi: “Rốt cuộc họ đã phải trải qua một cuộc sống như thế nào chứ? Chẳng phải đất nước đã hòa bình rồi sao?”. Ngay sau đó, người chồng hùng hổ rút chiếc thắt lưng, “chẳng nói chẳng rằng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, thế nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên hơn cả chính là hành động của người vợ, bà ta không hề có chút phản ứng nào, không kêu lên một tiếng cũng chẳng chống trả hay tìm cách chạy trốn. Lão nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ!”. Mày và chúng mày mà lão nói đến là vợ con của lão.

Chẳng phải ngay vừa phút giây trước thôi, khung cảnh yên bình tuyệt mĩ mà Phùng cho là toàn bích ấy sao, nhưng không, chỉ khi con người xuất hiện, đó mới thực sự là cuộc sống. Chứng kiến cảnh đó Phùng vô cùng kinh ngạc, “đứng há mồm ra mà nhìn”. Khi anh định vứt chiếc máy ảnh xuống mà chạy đến cũng là lúc thằng Phác xuất hiện, nó “như một viên đạn lao tới đích đã nhắm” lao thẳng vào người đàn ông. Nó giằng chiếc thắt lưng quật vào giữa ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen loăn xoăn của người đàn ông. Ngay sau đó, hắn dang thẳng cánh tay tát thằng bé hai phát khiến nó ngã dúi xuống cát. “Phác, con ơi!”, ngay sao đó là tiếng gọi xé lòng của người mẹ, bà ta ôm chầm lấy thằng bé, rồi buông ra chắp tay vái lấy vái để thật sự để lại quá nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Và rồi thằng bé “lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ” để lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt. Có lẽ, chính ngay lúc này đây, người nghệ sĩ Phùng mới thực sự nhận ra, đây mới chính là cuộc sống đằng sau bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ ấy.

Tất cả những sự việc ấy cứ nối tiếp diễn ra trước mắt mà Phùng không thể làm gì khác được. Nhưng cũng chính hiện thức ấy mới giúp Phùng vỡ lẽ ra được hiện thực cuộc sống không phải chỉ luôn toàn màu hồng, cảnh sắc thiên nhiên đẹp thật đấy nhưng nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống hạnh phúc để tận hưởng trọn vẹn khung cảnh ấy. Cuộc sống của gia đình hàng chài hiện lên đầy bất hạnh, khó khăn trái ngược hoàn toàn với vẻ đẹp toàn bích, bình yên trong bức ảnh của người nghệ sĩ Phùng. Nguyễn Minh Châu đã từng nói: “Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực.” Đất nước đã bước vào hòa bình, nhưng sự thật là con người chưa được ấm no. Ở đây, Nguyễn Minh Châu đã hoàn thành tốt sứ mệnh của mình, cất tiếng “bênh vực cho những người không có ai để bênh vực”. Nghệ thuật vốn bắt đầu từ cuộc đời nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng đẹp như nghệ thuật. Cuộc sống có rất nhiều những ngang trái, nghịch lí, người nghệ sĩ muốn thực sự khám phá cái vẻ đẹp toàn bích ấy thì cần có cái nhìn đa chiều, đừng chỉ nhìn cuộc sống dưới góc nhìn của một khung hình chữ nhật, hãy biết sống thực với nó, hãy hiểu chứ đừng chỉ biết. Câu chuyện của người nghệ sĩ Phùng cũng là câu chuyện của biết bao người nghệ sĩ khác. Đọc xong câu chuyện, tự nhìn lại bản thân tự hỏi, liệu mình có thật sự hiểu được thế nào là cái đẹp tuyệt bích của cuộc đời hay chưa?

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng lên sự đối lập giữa vẻ đẹp của thiên nhiên cảnh biển sương sớm với tấn bi kịch cuộc sống của người dân làng chài nghèo khổ. Chính ở đó, Nguyễn Minh Châu đã tô đậm quan điểm nghệ thuật của mình. “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu). Quả thực, bức tranh cảnh biển sương sớm đẹp thật đấy, nhưng nó không thật sự trọn vẹn, con người hiện lên trong đó quá mờ nhạt. Nghệ thuật chỉ là nghệ thuật khi nó hướng đến con người, phải thể hiện được bản chất sâu xa, sự thật ẩn sâu trong cuộc sống. Nguyễn Minh Châu đã từng khẳng định: “Nhà văn không có quyền nhìn sự thật một cách đơn giản, nhà văn cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử.” Nó đã trở thành thiên chức, thành sứ mệnh của người nghệ sĩ. Nghệ thuật chỉ thực sự là nghệ thuật khi nó khai thác ở cuộc sống với cái nhìn đa chiều, nhìn nhận cuộc đời ở bình diện đạo đức, thế sự để thực sự hiểu bản chất bên trong của hiện thực. Nghệ thuật ở đây không chỉ là nghệ thuật vị nghệ thuật mà đó phải là nghệ thuật vị nhân sinh. Không chỉ vậy, nhà văn cần viết về “những vùng tối của hiện thực đời sống để góp phần hoàn thiện nhân cách làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn”. Hiện thực cuộc sống thực sự rất nhiều trái ngang, nhưng không phải người nghệ sĩ nào cũng dám cầm bút về vẽ nó lên trong những trang văn của mình. Chính vì vậy, người nghệ sĩ cần có lòng dũng cảm, chân thực, một trái tim nhân hậu để “nâng niu những cái đẹp ở đời”, để “bênh vực cho những người không có ai để bênh vực”. Nhà văn phải tự ý thức cho chính mình hoàn thiện hơn, cho văn chương sâu sắc hơn để phục vụ con người, hướng đến con người. Có lẽ, trong thời kì ấy, chúng ta chưa từng bắt gặp bất cứ người nghệ sĩ nào mang màu sắc quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Chính những điều mới mẻ ấy, những đóng góp ấy trong công cuộc đổi mới văn học mà trước hết là về quan niệm nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “người mở đường tinh anh và tài năng” của nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Có thể thấy ngay từ trong cách đặt tên nhan đề Nguyễn Minh Châu đã phần nào bộc lộ ra quan điểm nghệ thuật của mình. Tại sao lại là “ngoài xa”? Khi ở xa, người nghệ sĩ không thể nào thấy được hết những mảng tối, những góc khuất trong cuộc sống của con người. Đó chỉ là những bóng lưng ngồi im phăng phắc. Nghệ thuật chỉ thật sự là nghệ thuật khi nó ôm trọn vào lòng con người, hiện thức cuộc sống, nâng niu những giá trị tốt đẹp của con người. Chỉ khi người nghệ sĩ thực sự sống cuộc sống, thực sự hiểu con người thì nghệ thuật mà họ tạo ra mới có giá trị đích thực, góp phần cải tạo cuộc sống, nâng cao giá trị của con người.

Sứ mệnh của nhà văn được Nguyễn Minh Châu hoàn thiện một cách thật trọn vẹn. Một hiện thực cuộc sống đen tối sau thời bình của nhân dân ta hiện lên rõ hơn bao giờ hết, một góc nhìn mới mẻ, một bài học mới về nghệ thuật cho những người nghệ sĩ, tất cả bắt đầu từ cuộc đời, từ con người, phục vụ con người, hướng đến con người và vì con người. Chính những điều đó đã kết tinh lại thành một nguồn sức mạnh kì diệu, một sức sống mãnh liệt cho tác phẩm trong dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, đúng như lời nhận định: “Văn học nằm ngoài mọi sự băng hoại, mình nó không chấp nhận quy luật của cái chết”.

04. PHÂN TÍCH NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI

Đề bài:

Phân tích người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Từ đó làm sáng tỏ giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Bài làm:

Tôi đã từng được nghe lời nhận xét của nhà nghiên cứu người Nga Nikulin về Nguyễn Minh Châu rằng: “Các nhân vật của Nguyễn Minh Châu trước năm 1980 được Nguyễn Minh Châu tắm rửa sạch sẽ, được bao bọc trong bầu không khí vô trùng”. Thật dễ nhận ra điều đó ở nhân vật Nguyệt trong “Mảnh trăng cuối rừng” - một cô gái xinh đẹp, trẻ trung, vẻ đẹp của thế hệ trẻ kháng chiến chống Mĩ. Nhưng ở giai đoạn sau, Nguyễn Minh Châu tập trung bút lực để viết về đời sống thế sự, đời tư, những triết lí nhân sinh. Tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác ấy là tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, trong truyện ngắn này ta bắt gặp người đàn bà hàng chài. Một người đàn bà trong cuộc sống lao động đời thường ấy đã thể hiện được giá trị nhân đạo của một cây bút đi đầu trong quan niệm đổi mới, luôn “đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người”.

“Chiếc thuyền ngoài xa” được Nguyễn Minh Châu sáng tác vào tháng 8/1983, lúc đầu được in trong tập “Bến quê”, sau đó có vinh dự được nhà văn dùng để đặt tên cho cả tập truyện ngắn, xuất bản năm 1987. Năm 1983, đó là một thời điểm khá đặc biệt khi cuộc chiến tranh chống Mĩ và tay sai đã kết thúc thắng lợi, chúng ta trở về muôn mặt của đời thường. Và cũng trong thời điểm này cảm hứng sáng tác của Nguyễn Minh Châu đang dần dần chuyển sang tính chất triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá ý nghĩa bản chất con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.

Trước cách mạng, ta biết đến thị - người vợ nhặt của Kim Lân là một người phụ nữ với số không tròn trĩnh, không tên, không tuổi, không gia đình, quê hương bản quán. Thì sau cách mạng, một lần nữa ta gặp lại số không ấy trong trang viết của Nguyễn Minh Châu. Một người phụ nữ chỉ được gọi tên bằng chính nghề nghiệp của mình - “người đàn bà hàng hàng chài” không thì được gọi là “mụ”, rồi đến “chị ta”. Người đàn bà vô danh ấy trạc tuổi bốn mươi với vẻ ngoài thô kệch, xấu xí. Có lẽ đây chính là chân dung của con người có một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, sinh ra để gánh vác công việc, để chèo chống với phong ba! Gia đình đông con, cuộc sống lam lũ vất vả là vậy song chị còn phải chịu những trận đòn roi của người chồng “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, cứ khi nào lão thấy khổ quá lại lôi vợ ra đánh, trút giận với những lời lẽ cay độc”. Hình ảnh người đàn bà hàng chài lam lũ, vất vả cứ ám ảnh và để lại trong lòng tôi nhiều thương xót.

Điều gì đã khiến người phụ nữ ấy làm như vậy? Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho chúng ta khi để người đàn bà ấy kể lại câu chuyện cuộc đời của mình nơi tòa án huyện. Người đọc không thể nào quên những hình ảnh một người phụ nữ miền biển mang trong mình nỗi đau khổ, sự nhẫn nhục của một cuộc đời lam lũ, vất vả đến cùng cực mà nhưng lại toát lên vẻ đẹp tiềm ẩn của con người dù sống trong tăm tối khó khăn. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn, phẩm chất của người đàn bà hàng chài. Ẩn sau một số phận nghiệt ngã, những biểu hiện có phần nhu nhược, yếu đuối lại là một tấm lòng nhân hậu, đức hạnh, phẩm tiết bám sâu trong tâm hồn, tâm linh con người chị.

Đằng sau vẻ ngoại hình xấu xí, thô kệch lại là tấm lòng vị tha, độ lượng. Chị hiểu rõ vì mưu sinh, vất vả, cuộc sống ngày một khó khăn, nên đã khiến một anh chàng từ hiền lành, chẳng khi nào động chân động tay với vợ, nay thành kẻ vũ phu bạo hành. Chị hiểu và thông cảm cho nỗi khổ u uất trong lòng chồng và chị sẵn sàng chia sẻ nỗi khổ ấy bằng sự chịu đựng những trận đòn roi kì lạ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” cứ liên tiếp ngày qua ngày. Ấy vậy mà người đàn bà ấy, không một lời kêu than trách oán cũng chẳng chạy trốn, bỏ đi mỗi khi chồng bạo hành. Trái lại, chị còn tự nguyện lên bờ cho chồng đánh và chịu đựng những trận đòn như lửa cháy. Không chỉ thấu hiểu, thương xót cho nỗi khổ của chồng, chị luôn luôn tự cảm thấy mình có lỗi và có suy nghĩ mặc cảm: “giá tôi đẻ ít đi và tôi sắm được cái thuyền rộng hơn”. Vì cuộc sống của những đứa con, chị thà bị đánh chứ không chịu bỏ chồng. Chị đã từ chối lời đề nghị giải thoát khỏi lão chồng vũ phu với lí lẽ: “Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình như trên đất được”. Nếu nghệ sĩ Phùng nhìn người đàn ông dưới góc độ lí lịch, thành phần, chánh án Đẩu nhìn người đàn ông dưới góc độ pháp luật, thằng Phác nhìn người đàn ông dưới con mắt trẻ thơ thì chỉ duy nhất người phụ nữ - nạn nhân của bạo hành gia đình lại nhìn anh ta dưới con mắt thương cảm bởi chị hiểu lí do vì sao người chồng lại trở nên độc ác như vậy. Đó là vì cái đói cái nghèo, vì gánh nặng mưu sinh đã ghì con người ta xuống sát đất, biến đổi cả tâm tính con người. Trong khi mọi người nhìn người đàn ông như một ác nhân thì người phụ nữ nhìn anh ta như một nạn nhân.

Chị tuy thất học nhưng có cái nhìn sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời, thấu tình đạt lí. Chị xuất hiện ở tòa án huyện trong tâm thế bị động, không tự nguyện và cũng không muốn viết đơn bỏ chồng. Khi mới bước chân đến tòa án, chị tỏ ra rất lúng túng và sợ sệt, xưng hô lễ phép “con” - “quý tòa” và nhìn xung quanh với ánh mắt lo sợ. Nhưng khi nghe lời khuyên và hiểu thiện chí của Đẩu, của Phùng, chị thay đổi thái độ: từ chối lời đề nghị giúp đỡ, đau đớn đánh đổi mọi giá để không phải bỏ chồng, đưa ra những lí do bằng việc kể lại câu chuyện về cuộc đời mình. Chị giúp Đẩu và Phùng nhận ra sự thiếu thực tế của họ: “Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của người làm ăn lam lũ, khó nhọc… Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông”. Hiểu được rằng Phùng và Đẩu muốn mình không còn phải chịu những trận đòn roi nữa, nhưng sự sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời của chị đã lí giải cho họ: “Đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Vậy nên nếu bỏ chồng, chị và các con không những mất đi chỗ dựa mà trong bão to, sóng dữ, thử hỏi nếu không có người đàn ông thì số phận chiếc thuyền ấy sẽ ra sao? Cuộc sống của người đàn bà hàng chài và những đứa con của chị sẽ ra làm sao? Tất cả những điều đó cho ta thấy ở người đàn bà hàng chài có sự sắc sảo, hiểu biết, thấu hiểu lẽ đời nhưng không bộc lộ, hiển hiện ở bên ngoài mà được cất giữ, giấu kín ở bên trong. Đây là người phụ nữ khiêm nhường, dù biết tất cả nhưng không chọn cách sống cho riêng mình.

Vượt lên trên sự cay đắng và cơ cực ấy, tình mẫu tử của chị tỏa sáng, đó chính là đức hi sinh cao thượng của thiên chức người mẹ. “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Với chị, “gánh lấy cái khổ vì con” là lẽ đương nhiên. Chị vất vả ngày đêm kéo lưới trên mặt biển đầy sóng gió hay chịu đựng trận đòn như cơm bữa của chồng là vì con, chị gồng mình để gánh chịu những đòn roi của chồng cũng bởi những đứa con. Chị hiểu hơn ai hết, một cuộc hôn nhân tan vỡ thì những đứa con luôn là người gánh chịu nỗi đau nhiều nhất, một gia đình hạnh phúc là gia đình còn có đầy đủ các thành viên dù đâu đó trong gia đình ấy vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Vì thương con và để tránh sự tổn thương cho con nên người đàn bà xin với chồng “đưa lên bờ mà đánh”. Rồi cũng lo trước sự phản ứng dữ dội của thằng Phác khi chứng kiến cảnh “bạo lực” đó, sợ nó làm điều gì dại dột đối với bố nó mà chị đành ngậm ngùi gửi đứa con yêu thương của mình lên rừng ở với ông ngoại. Hơn nữa người đàn bà còn muốn bảo vệ tâm hồn non trẻ của đứa con trước những tác động không tốt từ hoàn cảnh. Tình mẫu tử thiêng liêng, cao thượng ấy đã chắp cánh cho chị đưa đàn con bay vút lên trên sự cơ cực, đói kém, nhọc nhằn, lam lũ. Chị chắt chiu dành dụm những niềm vui nhỏ nhất: vui nhất là khi nhìn đàn con được ăn no, khi vợ chồng, con cái sống vui vẻ, hòa thuận. Tấm lòng của người mẹ ấy thật đáng trân trọng biết bao.

Qua những trang viết của Nguyễn Minh Châu, người đàn bà hàng chài là hiện thân của tình yêu thương, đức hi sinh, sự nhẫn nhục của người phụ nữ. Người đàn bà hàng chài thấp thoáng bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh

“Nhẫn lại nuôi con, suốt đời im lặng

Biết hi sinh nên chẳng nhiều lời”

(Tố Hữu)

Bằng biện pháp đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn và cả những vẻ đẹp được chắt chiu từ những hạnh phúc nhỏ bé giữa đời thường Nguyễn Minh Châu đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, đầy mâu thuẫn của con người. Qua người đàn bà ấy, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo của tác phẩm. Trước tiên, Nguyễn Minh Châu cho chúng ta nhìn thấy những vấn đề nhức nhối của cuộc sống đương thời. Bề ngoài của cuộc sống tưởng như bình yên, lặng sóng nhưng ngầm sâu là nạn bạo hành gia đình, sự nghèo đói, thất học và cả sự tha hóa về nhân cách, … những ngang trái, nghịch lí của cuộc sống. Chính cuộc đời, số phận của người đàn bà ấy khiến chúng ta nhìn nhận rõ hơn về cuộc đời, không thể có cái nhìn dễ dãi, đơn giản, một chiều được mà phải có cái nhìn toàn diện, đa chiều. Đó còn là tiếng nói cảm thông thương xót cho những kiếp người lao động lam lũ vất vả, một cuộc đời luôn phải chống chọi với sóng gió không lúc nào ngơi nghỉ. Và tâm điểm của truyện, Nguyễn Minh Châu muốn đề cao và tôn vinh người phụ nữ và khẳng định sức sống bất diệt của vẻ đẹp tâm hồn - hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn.

Khép lại “Chiếc thuyền ngoài xa”, người phụ nữ ấy để lại trong tôi quá nhiều dư âm. Đó là nỗi khắc khoải về số phận và cuộc đời của một người đàn bà cực khổ, lam lũ, một cuộc đời thật mỏng manh, xa vời, chấp chới như “chiếc thuyền ngoài xa” không biết đâu là điểm đến, là bến bờ hạnh phúc. Nhưng cũng chính từ cuộc đời ấy ta thấy được tấm lòng nhân hậu của một cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Đó không chỉ niềm cảm thương, xót xa cho số phận con người bị đánh đập, đói nghèo mà còn thể hiện niềm tự hào, trân trọng vì những vẻ đẹp tâm hồn không gì có thể làm vấy bùn. Những trang viết của Nguyễn Minh Châu dù cho lớp bụi thời gian có phủ kín, giăng đầy như thế nào thì “hạt ngọc” vẫn ngời sáng, lấp lánh. Một thứ ánh sáng mê hoặc biết bao thế hệ độc giả.

Xem thêm: Hai trạng thái cảm xúc của nhiếp ảnh Phùng trong "Chiếc thuyền ngoài xa"

Sống Đẹp
songdep.com.vn

5 chủ đề bạn cần biết mỗi tuần

Mỗi thứ Tư, bạn sẽ nhận được email tổng hợp những chủ đề nổi bật tuần qua một cách súc tích, dễ hiểu, và hoàn toàn miễn phí!

Bài Mới

Bình luận