Liên hệ với chúng tôi

Đạo

Bái sám là gì và ý nghĩa của bái sám trong đạo Phật

Chúng ta bái sám có tác dụng là để rửa sạch mọi tội lỗi của bản thân. Cứ kiên trì sám hối thì có thể đạt được tâm thanh tịnh giải thoát như chư Phật, Bồ tát.

Bái sám là gì và ý nghĩa của bái sám trong đạo Phật

Xuất bản:

Loan Nguyễn
Bái sám là gì và ý nghĩa của bái sám trong đạo Phật
Photo: internet

Bái sám là gì?

Bái sám còn gọi là lễ sám, đó là lễ bái chư Phật, Bồ tát, để sám hối tất cả tội lỗi bản thân đã tạo ra. 

Việc bái sám của Phật tử trước đây thường là bái sám hoặc thỉnh chư tăng lễ thay. Hiện nay, bái sám phần nhiều thỉnh tăng chứ ít người tự mình thực hiện.

Ngài Trí Thăng đời Đường đã tổng hợp các bản sám pháp từ trước mà soạn thành Tập chư kinh lễ sám nghi 2 quyển.

Gần đây, các bản bái sám như: Lương hoàng bảo sám, Từ bi thủy sám, Dược sư sám, Tịnh độ sám, Kim cương sám... khá thịnh hành và thường được dùng để lễ tụng.

Ý nghĩa của bái sám trong đạo Phật

Về ý nghĩa của việc lễ phật sám hối xin được dẫn lời của thầy Thích Trúc Thái Minh. Nếu khảo sát một cách tinh vi thì lời nói và việc làm của phàm phu đều là phạm tội tạo nghiệp. Phàm phu sở dĩ luân hồi sanh tử là do bản thân tạo các tội lỗi và chính tội lỗi đó dẫn dắt khiến phải trôi lăn trong lục đạo. 

Nếu như chúng ta đời quá khứ không tạo bất cứ một tội lỗi nào, tức hiện tại sẽ không làm phàm phu, hoặc như đời này chúng ta đoạn trừ được tất cả các tội nghiệp thì ngay lúc đó chính là cảnh giới của các bậc Thánh giả.

Tội lỗi trong quá khứ không thể làm gì được, tội nghiệp đời này cũng không thể làm gì được, muốn không tạo tội lỗi về sau vẫn không thể làm được khiến phàm phu rất khổ não.

Đức Phật vĩ đại của chúng ta dùng tâm từ bi vì chúng phàm phu mà thuyết ra một pháp môn thù thắng, đó là pháp sám hối nghiệp chướng.

Pháp tụng kinh mục đích là đối trước tấm gương chuẩn mực của Phật pháp để soi rọi tâm mình. Pháp sám hối là dạy chúng ta đem tâm cấu nhiễm, tâm dục vọng bỏ vào trong nước Phật pháp để tẩy rửa. Như thế công dụng bái sám là để tẩy rửa mọi cấu nhiễm dục vọng của tâm chúng ta.

y-nghia-cua-bai-sam-va-nghi-thuc-bai-sam-trong-dao-phat-1

Vì vậy, khi chúng ta đối trước Phật sám hối, không phải là cầu Phật xá tội mà là cầu Phật chứng minh, hướng về Phật bộc bạch những tội lỗi bản thân đã lỡ tạo, hạ tâm quyết định nguyện từ nay về sau không làm điều ác nữa. Đối với người khác không khởi lòng ác gọi là sám, đối với bản thân nhận sai lầm gọi là hối. Chư Phật Bồ tát vốn có tâm từ bi vĩ đại và thanh tịnh viên mãn như thế, các Ngài cũng mong mỏi chúng ta sẽ trở thành những bậc Thánh nhân có tâm từ bi vĩ đại và thanh tịnh viên mãn như vậy, nhưng chúng ta hiện vẫn đang còn nhào lộn ở trong vòng tội lỗi tự làm tự thọ, do đó cần phải chí thành sám hối. 

Chúng ta bái sám có tác dụng là để rửa sạch mọi tội lỗi của bản thân. Cứ kiên trì sám hối thì có thể đạt được tâm thanh tịnh giải thoát như chư Phật, Bồ tát.

Các nghi thức bái sám xưa nay ở Trung hoa là do các vị Tổ sư căn cứ vào kinh điển mà biên soạn thành. Trong đó thạnh hành nhất là Lương hoàn bảo sám, Tam muội thủy sám, Đại bi sám, Dược sư sám, Tịnh độ sám, Địa tạng sám, Thiên Phật sám... Người thực hành các nghi thức bái sám này từ trước đến nay đều có rất nhiều sự linh nghiệm, được truyền tụng và ghi chép trong sách vở, đích xác có thể nói là “Thật không uổng công” vậy.

Về pháp bái sám đương nhiên tốt nhất là tự bản thân mình thực hành, nếu như bản thân chúng ta chưa làm được, hoặc sự hiểu biết về nghi thức bái sám chưa được đầy đủ thì có thể mời Tăng Ni đến làm, hoặc các vị đó thay cho vong linh người bà con của mình mà làm tự nhiên cũng có công đức. Ý nghĩa của bái sám đại để tương đồng với ý nghĩa tụng kinh.

Bái sám có diệt được tội không?

Trước câu hỏi bái sám có giúp xóa tội tạo phước không, Thượng tọa Thích Nhật Từ cho rằng: Bái sám nhiều mà tội diệt phước sinh là không đúng về nhân quả. Trong kinh điển Pali, A Hàm và Đại Thừa, Đức Phật không cường điệu về sám pháp. Đức Phật chỉ dạy chúng ta: hãy nhận thức lỗi lầm, nêu cam kết không để cho lỗi lầm đó được xuất hiện thêm một lần nào nữa trong tương lai và bằng “Tứ Chính Cần” để kết thúc việc xấu đã làm, ngăn chặn việc xấu chưa có.

-Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh. 

-Tinh tấn dứt trừ những điều ác phát sinh. 

-Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh. 

-Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

Bái sám còn giúp thuyết phục, răn đe để mỗi người không cố tình làm những điều lỗi lầm đó trong tương lai. Con người cho dù có lạy hàng trăm lạy các Đức Phật ba đời thì tội đó cũng không bớt được một chút nào. Có đọc hàng trăm bộ Lương Hoàng Sám, Từ Bi Thủy Sám, Mục Liên Sám Pháp, Ngũ Bách Danh, Tam Thiên Phật, Vạn Phật thì cũng không thể nào chuyển được nghiệp đó. Lạy thì có sức khỏe. Lạy thì có phước được tôn kính. Nghiệp xấu vẫn phải trả thôi. 

Theo Thượng tọa Thích Nhật Từ, chúng ta không nên cường điệu. Đọc vừa phải để nhận thức đúng và điều chỉnh nghiệp xấu bằng sự gieo nghiệp thiện đối lập tương đương với năng lực nghiệp xấu cũ đã tạo.

Thượng tọa khẳng định, lạy Phật là một điều đúng, tốt cho sức khỏe vì vận động toàn thân, giúp chúng ta rũ bỏ được cái tâm ngã mạn khi biết tôn kính Phật và Bồ Tát. Tốt vì thời điểm đó chúng ta đang tĩnh tâm, hoàn toàn thanh tịnh, nó làm cho tâm của mình được an lạc. Và chỉ cần lạy 50 - 100 lạy là đủ vì với chừng đó số lượng lạy, lượng calori chúng ta được tiêu hao. Lạy Phật để tu chứ đừng có lạy Phật để mà cầu sám hối hết tội. Muốn sám hối hết tội thì phải gieo nghiệp thiện đối lập. Đó là con đường duy nhất, không có con đường nào khác.

y-nghia-cua-bai-sam-va-nghi-thuc-bai-sam-trong-dao-phat-2

Nghi thức bái sám tại nhà chuẩn nhất

Dưới đây là nghi thức dành cho Phật tử làm lễ sám hối vào ngày rằm và mùng 1 tại nhà.

NIỆM HƯƠNG LỄ BÁI

(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm)

TỊNH PHÁP-GIỚI CHƠN-NGÔN:

Án lam xóa ha. (3 lần)

TÌNH TAM-NGHIỆP CHƠN-NGÔN:

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần)

HỒNG DANH SÁM-HỐI

(Sám-hối là làm cho ba nghiệp được thanh-tịnh)

 (Tất cả đều quỳ thẳng và chắp tay, vị chủ lễ cầm ba cây hương đưa ngang trán và đọc bài cúng hương như sau):

Nguyện thử diệu hương vân,

Biến mãn thập phương giới,

Cúng-dường nhứt-thế Phật,

Tôn pháp chư Bồ tát,

Vô biên Thanh văn chúng,

Cập nhứt thế Thánh-Hiền,

Duyên khởi quang minh đài,

Xứng tánh tác Phật-sự,

Phổ huân chư chúng-sanh,

Giai phát Bồ-Ðề tâm,

Viễn-ly chư vọng-nghiệp,

Viên-thành vô-thượng đạo.

KỆ TÁN-DƯƠNG PHẬT-BẢO

Pháp vương vô-thượng tôn

Tam-giới vô luân thất

Thiên nhơn chi Ðạo-sư

Tứ-sanh chi từ-phụ

Ư nhứt niệm quy-y

Năng diệt tam-kỳ nghiệp

Xưng dương nhược tán-thán

Ức kiếp mạc năng tận.

(Ðứng dậy cấm hướng lên lư rồi chắp tay đứng thẳng và niệm lớn): 

QUÁN TƯỞNG

Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,

Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì,

Ngã thử đạo tràng như Ðế-châu,

Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,

Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,

Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ. (1 xá)

- Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Tận hư-không, biến pháp-giới, quá, hiện, vị-lai thập-phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh Tăng, Thường-trú Tam-Bảo. (1 lạy)

 - Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ, Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Long-Hoa Giáo-chủ đương lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, Ðại-trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, Ðại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát, Hộ-Pháp Chư-tôn Bồ-tát, Linh-sơn hội thượng Phật Bồ-tát. (1 lạy)

 - Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới Ðại-từ Ðại-bi A-Di-Ðà Phật, Ðại bi Quán-Thế-AÂm Bồ-tát, Ðại-Thế-Chí Bồ-tát, Ðại-nguyện Ðịa-Tạng-Vương Bồ-tát, Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát. (1 lạy)

(Ðồng đứng ngay thẳng chắp tay đọc bài)

TÁN DƯƠNG CHI

Dương-chi tịnh thủy,

Biến sái tam-thiên,

Tánh không bát-đức lợi nhơn thiên,

Pháp-giới quảng tăng diên...

Diệt tội tiêu khiên,

Hỏa diệm hóa Hồng-liên.

Nam-mô Thanh-Lương-Ðịa Bồ-tát. (3 lần) 

CHÚ ÐẠI-BI

(Hoặc bớt chú Ðại-bi cũng được)

Nam-mô Ðại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần) 

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.

Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.

Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)

Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. (3 lần)

KHAI KINH KỆ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,

Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa. 

Nam-mô Hồng Danh Hội Thượng Bồ-Tát. (3 lần)  

HỒNG-DANH BỬU-SÁM

Ðại-từ đại-bi mẫn chúng-sanh,

Ðại-hỉ đại-xả tế hàm-thức,

Tướng-hảo quang-minh dĩ tự nghiêm,

Chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ. (1)

Nam-mô quy-y Kim-Cang Thượng sư. (2)

Quy-y Phật, quy-y Pháp, quy-y Tăng. (3)

Ngã kim phát tâm, bất vị tự cầu Nhơn-Thiên phước báo, Thanh Văn, Duyên-Giác, nãi chí Quyền-thừa chư vị Bồ-tát, quy y tối thượng thừa, phát bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc A-Nậu-Ða-La Tam-Miệu Tam-Bồ-Ðề. (4)

Nam-mô quy-y thập-phương tận hư-không giới nhứt thiết chư Phật. (5)

Nam-mô quy-y thập-phương tận hư-không giới nhứt thiết Tôn Pháp. (6)

Nam-mô quy-y thập-phương tận hư-không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng. (7)

Nam-mô Như-Lai, Ưng-Cúng, Chánh-Biến-Tri, Minh-Hạnh-Túc, Thiện-Thệ, Thế-Gian-Giải, Vô-Thượng-Sĩ, Ðiều-Ngự Trượng-Phu, Thiên-Nhơn-Sư, Phật, Thế-Tôn. (8)

Nam-mô Phổ-Quang Phật. (9)

Nam-mô Phổ-Minh Phật. (10)

Nam-mô Phổ-Tịnh Phật. (11)

[1]

Nam-mô Ða-Ma-La-Bạt-Chiên-Ðàn-Hương Phật. (12)

Nam-mô Chiên-Ðàn Quang Phật. (13)

Nam-mô Ma-Ni-Tràng Phật. (14)

Nam-mô Hoan-Hỉ-Tạng-Ma-Ni-Bảo-Tích Phật. (15)

Nam-mô Nhứt-Thiết Thế-Gian Nhạo-Kiến-Thượng-Ðại Tinh-Tấn Phật. (16)

Nam-mô Ma-Ni-Tràng-Ðăng-Quang Phật. (17)

Nam-mô Huệ-Cự-Chiếu Phật. (18)

Nam-mô Huệ-Ðức-Quang-Minh Phật. (19)

Nam-mô Kim-Cang Lao-Cường-Phổ-Tán-Kim-Quang Phật. (20)

Nam-mô Ðại-Cường Tinh-Tấn Dõng-Mãnh Phật. (21)

Nam-mô Ðại-Bi-Quang Phật. (22)

Nam-mô Từ-Lực-Vương Phật. (23)

Nam-mô Từ-Tạng Phật. (24)

Nam-mô Chiên-Ðàn Khốt Trang-Nghiêm-Thắng Phật. (25)

Nam-mô Hiền-Thiện-Thủ Phật. (26)

Nam-mô Thiện-Ý Phật. (27)

Nam-mô Quảng Trang-Nghiêm-Vương Phật. (28)

Nam-mô Kim-Hoa-Quang Phật. (29)

Nam-mô Bảo-Cái-Chiếu Không Tự-Tại Lực Vương Phật. (30)

Nam-mô Hư-Không Bảo-Hoa Quang Phật. (31)

Nam-mô Lưu-Ly Trang-Nghiêm Vương Phật. (32)

Nam-mô Phổ-Hiện-Sắc-Thân-Quang Phật. (33)

Nam-mô Bất-Ðộng-Trí Quang Phật. (34)

Nam-mô Hàng Phục Chúng-Ma-Vương Phật. (35)

Nam-mô Tài Quang-Minh Phật. (36)

Nam-mô Trí-Huệ-Thắng Phật. (37)

Nam-mô Di-Lặc-Tiên Quang Phật. (38)

Nam-mô Thiện-Tịch-Nguyệt-AÂm Diệu-Tôn Trí-Vương Phật. (39)

Nam-mô Thế-Tịnh-Quang Phật. (40)

Nam-mô Long-Chủng-Thượng-Tôn-Vương Phật. (41)

Nam-mô Nhựt-Nguyệt-Quang Phật. (42)

Nam-mô Nhựt-Nguyệt-Châu-Quang Phật. (43)

Nam-mô Huệ-Tràng-Thắng-Vương Phật. (44)

Nam-mô Sư-Tử-Hẩu-Tự-Tại-Lực-Vương Phật. (45)

Nam-mô Diệu-AÂm-Thắng Phật. (46)

Nam-mô Thường-Quang-Tràng Phật. (47)

Nam-mô Quan-Thế-Ðăng Phật. (48)

Nam-mô Huệ-Oai-Ðăng-Vương Phật. (49)

Nam-mô Pháp-Thắng-Vương Phật. (50)

Nam-mô Tu-Di Quang Phật. (51)

Nam-mô Tu-Ma-Na-Hoa Quang Phật. (52)

Nam-mô Ưu-Ðàm-Bát-La-Hoa Thù-Thắng-Vương Phật. (53)

Nam-mô Ðại-Huệ-Lực-Vương Phật. (54)

Nam-mô A-Súc-Tỳ-Hoan-Hỉ-Quang Phật. (55)

Nam-mô Vô-Lượng-AÂm-Thinh-Vương Phật. (56)

Nam-mô Tài-Quang Phật. (57)

Nam-mô Kim-Hải-Quang Phật. (58)

Nam-mô Sơn-Hải-Huệ-Tự-Tại-Thông-Vương Phật. (59)

Nam-mô Ðại-Thông-Quang Phật. (60)

Nam-mô Nhứt-Thiết-Pháp-Tràng-Mãn-Vương Phật. (61)

Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật. (62)

Nam-mô Kim-Cang Bất-Hoại Phật. (63)

Nam-mô Bảo-Quang Phật. (64)

Nam-mô Long-Tôn-Vương Phật. (65)

Nam-mô Tinh-Tấn-Quân Phật. (66)

Nam-mô Tinh-Tấn-Hỷ Phật. (67)

Nam-mô Bảo-Hỏa Phật. (68)

Nam-mô Bảo-Nguyệt-Quang Phật. (69)

Nam-mô Hiện-Vô-Ngu Phật. (70)

Nam-mô Bảo-Nguyệt Phật. (71)

Nam-mô Vô-Cấu Phật. (72)

Nam-mô Ly-Cấu Phật. (73)

Nam-mô Dõng-Thí Phật. (74)

Nam-mô Thanh-Tịnh Phật. (75)

Nam-mô Thanh-Tịnh Thí Phật. (76)

Nam-mô Ta-Lưu-Na Phật. (77)

Nam-mô Thủy-Thiên Phật. (78)

Nam-mô Kiên-Ðức Phật. (79)

Nam-mô Chiên-Ðàn Công-Ðức Phật. (80)

Quảng cáo

Nam-mô Vô-Lượng-Cúc-Quang Phật. (81)

Nam-mô Quang-Ðức Phật. (82)

Nam-mô Vô-Ưu-Ðức Phật. (83)

Nam-mô Na-La-Diên Phật. (84)

Nam-mô Công-Ðức-Hoa Phật. (85)

Nam-mô Liên-Hoa-Quang-Du-Hí Thần-Thông Phật. (86)

Nam-mô Tài-Công-Ðức Phật. (87)

Nam-mô Ðức Niệm Phật. (88)

Nam-mô Thiện Danh-Xưng Công-Ðức Phật. (89)

Nam-mô Hồng-Diệm-Ðế-Tràng-Vương Phật. (90)

Nam-mô Thiện-Du-Bộ Công-Ðức Phật. (91)

Nam-mô Ðấu-Chiến-Thắng Phật. (92)

Nam-mô Thiện-Du-Bộ Phật. (93)

Nam-mô Châu-Tráp Trang-Nghiêm-Công-Ðức Phật. (94)

Nam-mô Bảo-Hoa Du-Bộ Phật. (95)

Nam-mô Bảo-Liên-Hoa-Thiện-Trụ-Ta-La-Thọ-Vương Phật. (96)

Nam-mô Pháp-Giới-Tạng-Thân-A-Di-Ðà Phật. (97)

Như thị đẳng, nhứt thiết thế-giới, chư Phật Thế-Tôn, thường-trụ tại thế, thị chư Thế-Tôn đương từ niệm ngã! Nhược ngã thử sanh, nhược ngã tiền sanh, tùng vô-thỉ sanh-tử dĩ lai, sở tác chúng tội, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy-hỉ. Nhược tháp, nhược Tăng, nhược tứ phương tăng vật, nhược tự thủ, nhược giáo tha thủ, kiến thủ tùy-hỉ.

Ngũ vô-gián tội, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy-hỉ.

Thập bất thiện đạo, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy-hỉ.

Sở tác tội-chướng, hoặc hữu phú tàng, hoặc bất phú tàng, ưng đọa địa-ngục, ngạ-quỉ súc-sanh, chư dư ác thú, biên-địa, hạ tiện, cập miệt lệ-xa, như thị đẳng xứ, sở tác tội-chướng, kim giai sám-hối. O (98)

Kim chư Phật Thế-Tôn, đương chứng tri ngã, đương chứng tri ngã, đương ức niệm ngã, ngã phục ư chư Phật Thế-Tôn tiền, tác như thị ngôn: nhược ngã thử sanh, nhược ngã dư sanh, tằng hành bố-thí, hoặc thủ tịnh giới, nãi chí thí dữ súc-sanh, nhứt đoàn chi tự, hoặc tu tịnh-hạnh, sở hữu thiện-căn, thành-tựu chúng-sanh, sở hữu thiện-căn, tu-hạnh bồ-đề, sở hữu thiện-căn, cập vô thượng trí, sở hữu thiện-căn, nhứt thiết hiệp tập, giảo kế trù lượng, giai tất hồi-hướng A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề; Như quá-khứ, vị-lai, hiện-tại chư Phật sở tác hồi-hướng, ngã diệc như thị hồi-hướng, chúng tội giai sám-hối, chư phước tận tùy-hỉ, cập thỉnh Phật công-đức, nguyện thành vô-thượng trí.

Khứ, lai, hiện-tại Phật, ư chúng-sanh tối-thắng, vô-lượng công-đức hải, ngã kim qui-mạng lễ. O (99)

Sở hữu thập-phương thế-giới trung,

Tam thế nhứt thiết nhơn Sư-Tử,

Ngã dĩ thanh-tịnh thân, ngữ, ý

Nhứt thiết biến lễ tận vô dư,

Phổ-Hiền hạnh nguyện oai-thần lực,

Phổ hiện nhứt thiết Như-Lai tiền,

Nhứt thân phục hiện sát-trần thân,

Nhứt nhứt biến lễ sát-trần Phật. (100)

Ư nhứt trần trung trần số Phật,

Các xử Bồ-tát chúng hội trung,

Vô tận pháp-giới trần diệc nhiên,

Thâm tín chư Phật giai sung mãn.

Các dĩ nhứt thiết âm thinh hải

Phổ xuất vô tận diệu ngôn từ,

Tận ư vị lai nhứt thiết kiếp,

Tán Phật thậm thâm công-đức hải. (101)

Dĩ chư tối thắng diệu hoa man

Kỷ-nhạc đồ hương cập tán-cái

Như thị tối-thắng trang nghiêm cụ,

Ngã dĩ cúng-dường chư Như-Lai,

Tối-thắng y-phục tối-thắng hương,

Mạc hương, thiêu hương dữ đăng chúc,

Nhứt nhứt giai như diệu-cao tụ,

Ngã tất cúng-dường chư Như-Lai,

Ngã dĩ quảng đại thắng giải tâm,

Thâm tín nhứt thiết tam thế Phật,

Tất dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực,

Phổ biến cúng-dường chư Như-Lai. (102)

Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,

Giai do vô thỉ tham, sân, si,

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,

Nhứt thiết ngã kim giai sám-hối. (103)

Thập phương nhứt thiết chư chúng-sanh,

Nhị thừa hữu-học cập vô-học,

Nhứt thiết Như-Lai dữ Bồ-tát,

Sở hữu công-đức giai tùy-hỉ. (104)

Thập phương sở hữu thế-gian đăng,

Tối-sơ thành-tựu Bồ-đề giả,

Ngã kim nhứt thiết giai khuyến thỉnh,

Chuyển ư vô-thượng diệu pháp-luân. (105)

Chư Phật nhược dục thị Niết-bàn,

Ngã tất chí-thành nhi khuyến thỉnh,

Duy nguyện cửu trụ sát-trần kiếp,

Lợi lạc nhứt thiết chư chúng sanh. (106)

Sở hữu lễ tán cúng-dường phước,

Thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp-luân,

Tùy-hỉ, sám-hối chư thiện-căn,

Hồi hướng chúng-sanh cập Phật đạo. (107)

Nguyện tương dĩ thử thắng công-đức,

Hồi-hướng vô-thượng chơn pháp-giới,

Tánh tướng Phật, Pháp cập Tăng-già,

Nhị đế dung thông tam-muội ấn,

Như thị vô-lượng công-đức hãi,

Ngã kim giai tất tận hồi-hướng,

Sở hữu chúng-sanh thân, khẩu, ý,

Kiến hoặc đàn báng ngã pháp đẳng,

Như thị nhứt thiết chư nghiệp-chướng

Tất giai tiêu-diệt tận vô dư,

Niệm niệm trí châu ư pháp-giới,

Quảng độ chúng-sanh giai bất thối,

Nãi chí hư-không thế-giới tận,

Chúng-sanh cập nghiệp phiền-não tận,

Như thị tứ pháp quảng vô-biên,

Nguyện kim hồi-hướng diệc như-thị. (108) 

Nam-mô Ðại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát. (3 lần)

MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ÐA TÂM KINH

Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

 Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3 lần)

VÃNG-SANH QUYẾT-ÐỊNH CHƠN-NGÔN

Nam-mô a di đa bà dạ, Ða tha dà đa dạ, Ða địa dạ tha.

A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ,

A di rị đa tì ca lan đế,

A di rị đa, tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na,

Chỉ đa ca lệ ta bà ha.

TÁN PHẬT

A-Di-Ðà Phật thân kim sắc,

Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân,

Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di,

Cám mục trừng thanh tứ đại hải,

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh,

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, tiếp dẫn đạo-sư A-Di-Ðà Phật.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (30 biến, niệm nhiều càng tốt)

Nam-mô Ðại-bi Quán-Thế-AÂm Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Ðại-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)

(Ðồng quỳ xuống chắp tay và đọc bài sám như sau)

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN

Ðệ tử kính lạy đức Phật Thích-Ca,

Phật A-Di-Ðà,

Thập phương chư Phật,

Vô lượng Phật Pháp,

Cùng Thánh Hiền Tăng,

Ðệ-tử lâu đời lâu kiếp

Nghiệp-chướng nặng nề,

Tham giận kiêu-căng,

Si-mê lầm-lạc,   

Ngày nay nhờ Phật,

Biết sự lỗi lầm,

Thành tâm sám hối,

Thề tránh điều dữ,

Nguyện làm việc lành,

Ngửa trông ơn Phật,

Từ-bi gia hộ,

Thân không tật bệnh,

Tâm không phiền-não,

Hàng ngày an vui tu tập,

Phép Phật nhiệm-mầu,

Ðể mau ra khỏi luân-hồi,  

Minh tâm kiến tánh,

Trí-huệ sáng-suốt,

Thần-thông tự-tại,

Ðặng-cứu độ các bậc tôn trưởng,

Cha mẹ anh em,

Thân bằng quyến thuộc,

Cùng tất cả chúng-sinh,

Ðồng thành Phật-đạo.

 (Tiếp đọc bài hồi hướng) 

HỒI HƯỚNG

Sám-hối công-đức thù thắng hạnh,

Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,

Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,

Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,

Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.

Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.

Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,

Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,

Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công-đức,

Phổ cập ư nhứt thiết,

Ngã đẳng dữ chúng-sanh,

Giai cộng thành Phật-đạo. 

PHỤC NGUYỆN    

Nam-mô A-Di-Ðà Phật

Thượng lai đệ-tử chúng đẳng, chí thành lễ Phật Hồng danh, sám hối công-đức.

Chuyên vì, thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ. Thứ  nguyện hiện tiền đệ-tử chúng đẳng, tội diệt phước sanh, Bồ-đề tâm tăng trưởng, trí tánh thường minh, Bát-nhã hoa khai, Ðạo tâm bất thối.

PHỔ NGUYỆN

Âm siêu dương thới, Pháp giới chúng sanh, Tình dữ vô tình, Tề thành Phật-đạo.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật.

(Ðồng niệm lớn) 

TAM QUY Y

Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô-thượng tâm. (1 lạy)

Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)

Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

Xem thêm: 3 kiểu người vận mệnh tương lai trắc trở, dù chăm chỉ bái Phật cũng vô ích

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo