Liên hệ với chúng tôi

Sống

Chuyện hy hữu 1000 năm có 1: Danh tướng cãi lệnh vua để tránh "sống mái" với bạn thân trên sa trường

Dù là danh tướng trụ cột 2 triều đại đối địch (nhà Nguyễn - Tây Sơn) nhưng hai người này vẫn bất chấp tất cả cãi lệnh vua, nhận giáng chức để tránh những cuộc "sống mái" trên chiến trường.

Chuyện hy hữu 1000 năm có 1: Danh tướng cãi lệnh vua để tránh 'sống mái' với bạn thân trên sa trường

Xuất bản:

Đỗ Thu Nga
Chuyện hy hữu 1000 năm có 1: Danh tướng cãi lệnh vua để tránh 'sống mái' với bạn thân trên sa trường
Photo: internet

Hai danh tướng kể trên chính là Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc hầu). Tình bạn giữa họ đã được sử sách nhắc đến với những từ mỹ miều nhất. Suốt 25 năm trời, họ luôn chọn cách tốt nhất để tránh chạm mặt trên sa trường.

Vị tướng khai khẩn ra đất Nam Bộ

Thoại Ngọc hầu (1761-1829) sinh tại làng Hải An, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là quận Sơn Trà, Đà Nẵng). Ông là 1 trong những danh tướng lừng lẫy bậc nhất của nhà Nguyễn.

Công lao lớn nhất của Thoại Ngọc hầu với lịch sử dân tộc chính là việc ông đã khai khẩn ra vùng đất Nam Bộ ngày nay. Sự nghiệp này đã bắt đầu từ năm 1817, khi ông được cử làm trấn thủ Vĩnh Thanh.

Nhận thấy rõ tầm quan trọng của vùng đất Nam Bộ về kinh tế và quốc phòng, trong khi việc giao thông thương mại ở vùng này gặp nhiều khó khăn, ông đã trình vua xin đào vét sông Ba Lạch.

Thoai-Ngoc-hau-cai-lenh-vua-de-tranh-doi-dau-voi-ban-tren-sa-truong-8
Tượng Thoại Ngọc hầu

Đến cuối năm 1817, Gia Long sai Thoại Ngọc hầu đi đào kênh Thoại Hà dài gần 30km. Nhờ kênh, nguồn nước ngọt dồi dào, việc đi lại, giao thương thuận lợi. 

Kênh Thoại Hà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tháo một phần nước lụt của sông Hậu ra biển. Đây là công trình thoát lũ đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long. 

Cùng lúc đào kênh, Thoại Ngọc hầu còn chú trọng lập làng, làm đường, nối liền Long Xuyên với kiên Giang. Năm 1820, ông còn cho đào kênh lớn nối liền Châu Đốc với Hà Tiên. Đây là công trình vĩ đại do ông thiết kế, huy động đến 80.000 người và phải làm mất gần 5 năm (1820-1824) mới hoàn thành.

Đến năm 1822, theo chỉ dụ của Minh Mạng, ông lại tiếp tục chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế. Năm 1824, kênh được hoàn thành với chiều dài lên đến 87km, rộng 25km, sâu 3m. Kênh đào xong đã tưới tiêu cho hàng vạn mẫu ruộng miền Hậu Giang, việc đi lại bằng đường thủy trở nên thuận lợi hơn. 

Sách Đại Nam nhất thống chí viết rằng: "Từ ấy, đường sông lưu thông, từ kế hoạch trong nước đến phòng giữ ngoài biên cho tới nhân dân buôn bán đều được tiện lợi vô cùng".

Thoai-Ngoc-hau-cai-lenh-vua-de-tranh-doi-dau-voi-ban-tren-sa-truong-7
Kênh Vĩnh Tế

Cho đến thời điểm hiện tại, kênh vẫn còn giá trị về mặt thủy lợi, giao thông, thương mại, biên phòng, thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nước của nhân dân Việt và chính sách coi trọng thủy lợi để phát triển nông nghiệp của triều Nguyễn. 

Trước những đóng góp của Thoại Ngọc hầu, vua Minh Mạng rất hài lòng nên đã sắc ban cho ngọn núi nhìn xuống dòng kênh cái tên Thoại Sơn (dân gian gọi là núi Sập) và kênh mang tên là Vĩnh Tế (tên vợ ông - bà Châu Thị Vĩnh Tế). 

Quảng cáo

Triều Nguyễn còn nghĩ đến công lao của Nguyễn Văn Thoại nên đã lấy tên của ông đặt cho tên làng, tên núi, tên sông: Thoại Sơn, Thoại Hà, Thoại Giang.

Chuyện cãi lệnh vua để tránh "sống mái" với bạn trên sa trường

Ít ai biết được, trước khi trở thành người có công khai khẩn nên vùng đất Nam Bộ ngày nay, Thoại Ngọc hầu là một trong những danh tướng nổi bật. Ông theo hầu chúa Nguyễn từ khi mới 16 tuổi.

Trong số những câu chuyện đáng nhớ về Thoại Ngọc hầu, không thể không nhắc đến việc ông cãi lệnh vua để tránh đối đầu với bạn thân là Trần Quang Hải (dũng tướng triều Tây Sơn) trên chiến trường. Chuyện này khiến hậu thế vô cùng cảm động.

Sử chép, giống như Nguyễn Văn Thoại, Trần Quang Diệu cũng là người Quảng Nam, giữa hai bậc danh tướng này tồn tại tình bạn thắm thiết từ thời ấu thơ. 

Sau này, không may số phận đưa đẩy, họ không chỉ là bề tôi của hai thế lực thù địch phong kiến (nhà Nguyễn và Tây Sơn) mà còn phải đối đầu "sống mái" với nhau trên chiến trường. 

Thoai-Ngoc-hau-cai-lenh-vua-de-tranh-doi-dau-voi-ban-tren-sa-truong-6
Tượng thờ danh tướng Trần Quang Diệu

Theo Kỷ yếu của nhà sử học Lê Duy Anh, năm 1801, lúc Nguyễn Văn Thoại mang quân từ Vạn Tượng (Lào) tiến đánh Phú Xuân, nghe tin Trần Quang Diệu từ Quy Nhơn cầm binh ra cứu viện. Vì không muốn đối đầu với bạn mà tướng Thoại đã giao lại bình quyền cho phó tướng của mình là Lưu Phước Tường rồi bỏ vào Bình Định.

Cũng vì quyết định này mà ông bị chúa Nguyễn bắt tội là không có lệnh vua mà tự tiện quay về. Sau đó, ông bị giáng xuống làm Cai đội quản đạo Thanh Châu.

Quyết định của ông khi ấy đã ảnh hưởng nặng đến cơ đồ, công danh, sự nghiệp. Nhưng trong suốt cuộc đời, ông chưa từng hối hận về việc làm đó. Bởi với Nguyễn Văn Thoại, quê hương và bạn bè là những điều rất thiêng liêng. 

Sau này, khi các nhà nghiên cứu, các sử gia đưa câu chuyện này ra bàn luận thì đã có những lời nhận xét, đánh giá tích cực. Họ cho rằng, ông là bậc chính nhân quân tử, dám "vì nghĩa diệt thân".

Không dừng lại ở đó, đến năm 1802, Trần Quang Diệu và vợ con bị Gia Long xử tử. Thân tộc bị hệ luỵ, phải đổi sang họ Nguyễn, chính Thoại Ngọc Hầu đã bí mật cho người về quê, giao cho vợ thứ trích ruộng đất của mình để lo hương hỏa, thờ tự bạn mình.

(Theo Zing)

Xem thêm: Tấm lòng son sắt với nước của Thoại Ngọc Hầu và nỗi oan khuất trăm năm

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

Nơi các cây bút tự do, các chuyên gia, có thể xuất bản các nội dung, bài viết trên nền tảng của Sống đẹp.

SÔI NỔI
Quảng cáo

Cùng chuyên mục

Quảng cáo
Quảng cáo